MỪNG 25 NĂM TUYÊN PHONG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM 1988-2013

ĐỌC LẠI
“LỊCH SỬ CÔNG GIÁO VIỆT NAM BỊ CẤM VÀ BÁCH HẠI”

LTS: Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp bày tỏ lòng mộ mến Các Thánh Tử Đạo Việt Nam một cách đặc biệt bằng cách cùng nhau tổ chức Đại Hội Lộ Đức từ 01 đến 05 tháng 08 năm 2013 để “Mừng 25 năm tuyên phong các thánh Tử Đạo Việt Nam – Sống Đức Tin theo gương tiền nhân”.

Để góp phần chia sẻ lòng mộ mến này, chúng tôi xin giới thiệu loạt bài sau đây của Gs Trần Văn Cảnh.

“Mừng 25 năm tuyên phong các Thánh Tử Đạo Việt Nam 1988-2013, đọc lại “Lịch sử Công Giáo Việt Nam bị cấm và bách hại”

MỤC LỤC

1. Lịch sử những lý do và sắc chỉ cấm đạo
2. Chính sách cấm đạo của vua Minh Mệnh
3. Các Thánh Tử Đạo đích thực là tử đạo kitô hữu
4. Gương đốt sáng văn hóa Việt Nam của các Thánh Tử Đạo Việt Nam
5. Gương thăng hoa văn hóa Việt Nam của các Thánh Tử Đạo Việt Nam
6. Cộng sản quản lý Công Giáo Việt Nam thế nào? Công Giáo Việt Nam chinh phục Cộng Sản ra sao?

Bài 1: LỊCH SỬ NHỮNG LÝ DO VÀ SẮC CHỈ CẤM ĐẠO [1]

Đạo Công Giáo được truyền vào Việt Nam là do hoàn cảnh mà các vua quan Việt Nam đã tạo ra là họ muốn tiếp đón và có khi mời gọi người Âu Châu vào Việt Nam, hầu giao thương, buôn bán với mình. Trong thế kỷ XVI, lịch sử Việt Nam loạn lạc với những tranh chấp giữa nhà Mạc và nhà Lê (1527-1592). Bắc triều nhà Mạc, cũng như Nam triều nhà Lê đều mời đón người Âu châu vào buôn bán với mình. Sang thế kỷ XVII, với phân tranh Trịnh Nguyễn (1570-1786), Chúa Trịnh cũng như chúa Nguyễn, ai cũng muốn tiếp xúc với người Âu Châu để võ trang cho mình [2]. Dưới thời Tây Sơn (1788-1802), năm 1789, Nguyễn Vương Ánh lấy được thành Gia Định; lại xin được sự giúp đỡ của người Pháp, nhất là của Đức Cha Bá Đa Lộc, người đã mang về, từ Pháp, mấy chiến thuyền, đạn dược và những cố vấn, tăng cường võ trang quân sự [3]. Nhờ vậy, năm 1802, Nguyễn Vương mới thống nhất được giang sơn, mà xưng đế hiệu là Thế Tổ, lập lên một triều đại mới cho nhà Nguyễn.

Trong những người Việt Nam đầu tiên đã trở lại đạo Công Giáo, có nhiều người quan quyền hay hoàng tộc, có hiểu biết. Công tử Đỗ Hưng Viễn, con quan đại thần triều Lê trung hưng, là người công giáo đầu tiên vào khoảng những năm 1560-1570. Người thứ hai là công chúa Mai Hoa, chị của Hoàng Tử Lê Thái Tông, được rửa tội vào năm 1591[4]. Sau đó, Năm 1624, tại Thuận Hóa, Giáo sĩ De Pina dạy giáo lý cho bà Minh Ðức Vương Thái Phi (1568-1648), vợ của chúa Nguyễn Hoàng và ban phép Thánh Tẩy cho bà với thánh hiệu Maria Madalena [5]; Năm 1627 tới thủ đô Kẻ Chợ (Hà Nội), Cha Đắc Lộ đã được tiếp kiến chúa Trịnh Tráng hồi đó xưng hiệu là Thanh Ðô Vương. Trong quãng thời gian ở tại thủ đô, ngài đã khuyên được em gái chúa Trịnh Tráng trở lại đạo Công Giáo mang thánh hiệu là Catarina, còn chính chúa Thanh Ðô Vương cho phép ngài lập nhà thờ bên cạnh đền vua.

Nhưng chính những thành quả kể trên cũng là cơ hội gây nên ghen tương, hiểu lầm. Vả nữa, vì sự kiện giáo dân càng ngày càng phát triển đông đúc, một số vua chúa, quan lại và cả giới Tăng Ni đã có những nhận xét vội vàng và nghi ngại, sợ mất đi một phần thần dân, một phần ảnh hưởng, một phần tín đồ. Thêm vào đó giáo lý của đạo Công Giáo đem tới có vẻ quá nghiêm khắc và bị lên án là gây xáo trộn trật tự xã hội, thí dụ trong gia đình, theo giáo lý Thiên Chúa, là chỉ có nhất phu nhất phụ, chứ không thể dung thứ, hay cho phép bảo tồn chế độ đa thê, tì thiếp, nàng hầu, là những sự kiện rất thịnh hành trong triều đình, trong giới quan lại, trong giai cấp thượng lưu giầu sang của thời xưa [6]. Ngoài ra, đối mặt với cảnh vật và xã hội Việt nam, những khó khăn hoà mình nơi các thừa sai vào với xã hội Việt nam không phải là thiếu [7]; cách biểu lộ sự tôn kính tổ tiên và lòng hiếu thảo với ông bà cha mẹ của người công giáo được thể hiện khác với các lễ nghi cổ truyền cũng là một cớ làm nhiều người chê trách. Ba sự kiện trên đã là những nguyên nhân thầm kín đầu tiên đưa đến việc cấm cản và bách hại đạo Công Giáo.

Thủa ban đầu có sự ghét đạo với những lý do ghen tương. Hai cha Buzomi và cha Carvalho củng 3 thầy trợ tá đã đến cửa Hội An ngày 18.01.1615. Mấy tháng sau, vào Lễ Phục Sinh, cha Buzomi đã xây xong một nhà nguyện mới và rửa tội được 10 tân tòng. Hội an đã là sở truyền giáo thứ nhất của các cha. Từ tháng 07, cha đi trấn Quảng Nam giảng đạo và đã rửa tội được 300 tân tòng, lập được một sở truyền giáo thứ hai ở đây. Chỉ vài năm sau, các Thầy Tăng Ni đã xúi dục Chúa Sãi ra lệnh cấm đạo, nhân vụ hạn hán, năm 1617 dưới thời chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên, 1615-1635). Các Thầy Tăng Ni giải thích rằng: “Trời hạn hán là vì các thần nổi giận, thấy chúng bỏ đi theo đạo mới, để chùa chiền miếu mạo hoang vu, muốn cho các thần nguôi đi, chỉ có cách là đuổi các đạo sư tây giang ra khỏi nước” [8]. Có thật là vì các Thần Phật bất mãn hay vì các Thầy Tăng Ni ghen tương?

Nhưng về sau, trong những cuộc bách hại đẫm máu, dần dần hiện rõ lý do chính thức tôn giáo. Hầu hết các sắc lệnh cấm đạo đều vì lý do tôn giáo, được thúc đẩy do lòng “hận thù tín ngưỡng: odium fidei“. Hận thù đến từ một quan niệm đôc tôn Khổng Giáo. Khổng tử là một hiền triết đã đưa ra những quan điểm sống tích cực với cốt lõi là thuyết chính danh, ngũ luân, ngũ thường, tam tòng tứ đức… đã thật sự là món ăn tinh thần quý giá cho dân chúng đã mất niềm tin vào lẽ phải cuộc đời. Số người xin đến theo học với ông rất đông, tổng số có lúc lên đến 3000 học trò, gọi là tam thiên đồ đệ. Học trò và học thuyết của Khổng Tử đã góp phần thiết lập trật tự xã hội, xây dựng đạo đức và phẩm giá con người. Nhờ vậy mà xuất hiện “Thất thập nhị hiền” và hàng loạt những tinh hoa anh tài của xã hội. Người đời sau quá hâm mộ tư tưởng học thuyết Nho gia, trau chuốt, thêm bớt, rồi lồng vào tủ kính, xem Tứ thư Ngũ kinh là sách vở của Thánh hiền, là chân lý tuyệt đối, bất di bất dịch, và đó cũng là lúc Nho gia chuyển thành Nho giáo. Hán Vũ Đế đã “Bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật”, bắt dân chúng “Không được học gì ngoài sách vở Nho gia”. Thế là chân lý bị độc quyền, người cầm quyền yêu cầu giới học sĩ chỉ cần học thuộc và làm theo, không cần bàn bạc thảo luận chi cả. Tứ thư Ngũ kinh trở thành nội dung chủ yếu trong khoa cử, chỉ cần học thuộc chép lại là cũng có thể đỗ đạt, làm quan. Tư tưởng Nho gia từ chỗ là học thuyết xây dựng xã hội, làm người sống ở đời, trở thành những câu sáo ngữ có thể giúp người học thăng quan tiến chức. Các vua chúa nhận ra Nho Giáo, với tam cương, là một tôn giáo bảo vệ đắc lực cho quyền hành của mình, đã đặt nó lên hàng quốc giáo, chính đạo, độc tôn, bắt mọi người dân phải gia nhập, tuân giữ. Hận thù đổ vào tín ngưỡng Công Giáo xác tín sâu xa vào Thiên Chúa, sự tôn thờ Ngài là đấng Tạo dựng muôn loài, là vị Cứu tinh nhân loại và là Thẩm phán tối cao [9].

Lịch sử Giáo Hội Việt Nam ghi nhớ tất cả 53 Sắc chỉ chính thức do các chúa (hai dòng họ Trịnh, Nguyễn: trong Nam ngoài Bắc), do nhà Tây Sơn và do các vua: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức ban hành nhằm khai trừ và tiêu diệt đạo Thiên Chúa. Những lý do nào đã được nêu ra trong các lệnh cấm đạo, đặc biệt là những lệnh mà theo đó các thánh tử đạo đã bị bức tử?

1. Ở Đàng Trong, các chúa Nguyễn (1615-1778) cấm đạo vì “Đạo mới làm cho người ta mất hết tinh thần đạo giáo của tổ tiên. Tất cả có tám 8 Sắc chỉ đã được đưa ra: Chúa Sãi (Nguyễn Phúc Nguyên, 1615) với sắc chỉ năm 1625, Chúa Thượng (Nguyễn Phước Lan, 1635-1648) với hai sắc chỉ năm 1639 và 1644. Chúa Hiền Vương (Nguyễn Phước Tần, 1648-1687) với hai sắc chỉ năm 1663 và 1665. Chúa Ngãi Vương (Nguyễn Phước Trân, 1687-1691) với sắc chỉ năm 1691. Chúa Minh Vương (Nguyễn Phước Chu, 1691-1725) với sắc chỉ năm 1700. Chúa Võ Vương (Nguyễn Phước Khoát, 1725-1765) với sắc chỉ năm 1725. Trong những sắc chỉ trên, sắc chỉ năm 1644 đã là lý do khiến thầy Anrê Phú Yên bị bắt ngày 25.07.1644 và bị luận án xử ngày 26.07.1644 [10].

2. Ở Đàng Ngoài, các chúa Trịnh (1627-1786) cấm đạo vì: “Tà đạo Hoa Lang dùng lời nói lừa gạt mê hoặc lòng dân và còn truyền bá lan rộng đạo lý sai lầm, nghịch lại với luật lệ và thói tục quốc gia nên cần phải nghiêm cấm. Tất cả, 17 sắc chỉ đã được ghi nhận: Chúa Trịnh Tráng (1627-1658) với 5 sắc chỉ các năm 1629, 1632, 1635, 1638 và 1643. Chúa Trịnh Tạc (1658-1682) với 3 Sắc chỉ các năm 1658, 1663 và 1669. Chúa Trịnh Căn (1682-1709) với sắc chỉ năm 1696. Chúa Trịnh Cương (1709-1729) với 4 Sắc chỉ các năm 1709, 1712, 1721 và 1722. Chúa Trịnh Giang (1729-1740) với sắc chỉ năm 1736. Chúa Trịnh Doanh (1740-1767) với 2 sắc chỉ năm 1754 và 1765. Chúa Trịnh Sâm (1767-1782) với sắc chỉ năm năm 1773. Ngày 22-1-1745, hai thánh đã bị tử đạo dưới thời Chúa Trịnh Doanh là Francis Gil de Federich Tế và Mateo Alonso Liciana Ðậu [11]. Dưới thời Chúa Trịnh Sâm, cha Giaxinhtô Castanhêda Gia và cha Vinh Sơn Lê Quang Liêm đã xưng đạo và tử đạo ngày 7-11-1773 [12].

3. Nhà Tây Sơn (1775-1800) cấm đạo để “Chấn chỉnh đạo thật của tổ tiên và của các vua là thờ kính Khổng Tử và hủy diệt đạo ngoại lai của các người Tây Phương để duy trì bình an». Khởi nghĩa năm 1775, đóng đô tại Quy Nhơn, rồi năm 1786 kéo quân ra chinh phục Miền Bắc, Nhà Tây Sơn đã ra 6 sắc chỉ. Ba sắc chỉ ở trong Nam, do Vua Thái Đức vào năm 1785 và 1798. Ba sắc chỉ ở Ngoài Bắc: hai do Quan Thái Sư Bùi Đức Tuyên ban hành ngày 07.01 và 24/01/1795; một do Khâm Sai Bắc Việt Ngô Văn Sở vào năm 1799. Hai thánh đã bị tử đạo theo lệnh cấm đạo năm 1798 của Vua Cảnh Thịnh. Đó là Cha Emmanuel Triệu, bị bắt ngày 8-8-1798 và tử đạo ngày 17-9-1798 tại Bãi Dâu và Cha Gioan Ðạt, bị bắt ngày 25-8-1798 và tử đạo ngày 28-10-1798 tại Chợ Rạ [13].

4. Vua Minh Mạng (1820-1840) cấm đạo Thiên Chúa vì cho rằng đạo này là đạo xấu, nghịch lại với chính đạo (đạo Khổng), dẫu đã được vua cha Gia Long để lại di chúc “không được phép bách hại đạo” và mẹ ruột cản ngăn “đừng bắt đạo: Vua Minh Mạng rất ghét đạo Công Giáo và đã ký 7 Sắc lệnh nghiêm cấm vào những năm 1825, 1826, 1830, 1833, 1834, 1836 và 1838. Nhà vua đã cấm một cách mưu mô, có kế hoạch.

Một đàng cho lệnh tập trung về Huế tất cả các Linh mục Thừa sai ngoại quốc. Bề ngoài nói khéo là nhà vua cần đến các vị để dịch sách ngoại ngữ ra tiếng Việt, nhưng thực ra là để cầm chân các nhà truyền đạo, không cho họ hoạt động và liên lạc với giáo đoàn. Trong khi đó chờ cơ hội có tàu ngoại quốc cập bến là đẩy số Thừa sai này về nước, đồng thời không cho vị Thừa sai mới nào được phép nhập cảnh Việt Nam. Ðàng khác tiêu diệt các cơ sở, các tổ chức Công Giáo địa phương, nhất là căng màn lưới kiểm soát gắt gao để lùng bắt các đạo trưởng người bản xứ.

Biết trong giáo lý đạo Công Giáo có “10 điều răn” và nhiều lễ nghi cử hành trong năm, ngày 15/07/1834, vua cho công bố một đạo luật trong đó gồm 10 khoản, lấy từ triết học Khổng Tử đem áp dụng vào xã hội Việt Nam để dạy đạo làm người.

Trước khi ra sắc lệnh cấm đạo, nhà vua xúi các quan làm kiến nghị, lên án đạo Thiên Chúa là tà đạo. Hai Kiến nghị (năm 1826 và 1830) yêu cầu nhà vua thẳng tay tiêu diệt đạo trưởng Thiên Chúa Giáo bằng án tử hình.

Những vụ tàn sát ở Nghệ An, ở làng Dương Sơn: Linh mục, giáo dân bị bắt, bị xử! Nhất là tại Nam Ðịnh do bàn tay khát máu của Thống Ðốc Trịnh Quang Khanh. Cuối năm 1837 ông bị nhà vua triệu về Kinh khiển trách nặng lời, vì chưa thẳng tay với Cộng đoàn Công Giáo miền Trung Châu và Duyên Hải Bắc Việt là hai địa điểm từ xưa đến nay vẫn là trung tâm Công Giáo phồn thịnh. Từ Huế trở về Nam Ðịnh, Trịnh Quang Khanh mang theo món quà 40 ảnh Thánh Giá cỡ lớn, quà của vua trao tặng, và 6 ngàn quân binh. Ảnh Thánh Giá được mang đặt khắp các cửa ngõ trong thành phố, hay là về sau di chuyển trong các họ đạo mỗi khi có các cuộc hành quân bách hại, trong khi đó từng ngàn quân mới được tiếp viện chạy đi bao vây khắp nơi, xua hết mọi gia đình Công Giáo ra ngoài, ép buộc họ phải bước lên ảnh Thập Giá, và bước lên ảnh Thập Giá có nghĩa là từ bỏ đạo thánh. Ba năm cuối đời Minh Mạng là những năm đau khổ nhất cho Giáo Hội Bắc Việt thời đó. Ðức Giám Mục Retord, Hội Thừa Sai Paris, diễn tả: “Không thể trốn thoát được nữa, vì không còn chỗ nào tối đủ để tránh né trăm nghìn con mắt rình rập [14] “!

Vì những chỉ dụ cấm đạo này, rất nhiều người đã bị bức tử vì theo đạo Thiên Chúa, trong đó 58 vị đã được phong hiển thánh tử đạo:

– 3 vị sau sắc lệnh 1833: Linh mục Phêrô Lê Tùy, Lm Gagelin Kính, MEP, Quan đội Phaolô Tống Viết Bường;

– 2 vị sau Mười điều Huấn dụ 1834: Binh sĩ Anrê Trần Văn Trông, Lm Marchand Du, MEP;

– 2 vị sau sắc lệnh 1836: Lm Cornay Tân, MEP, Thầy Phanxicô Xaviê Cần;

– 23 vị sau sắc lệnh 1838: Thầy Phanxicô Xaviê Chiểu, Giám Mục Henares Minh, OP, Lm Vinh Sơn Đỗ Yến, Thầy Giuse Nguyễn Đình Uyển, Lm Phêrô Nguyễn Bá Tuấn, GM Delgado Y, OP, Lm Fernandez Hiền, OP, Lm Bênađô Vũ Văn Duệ, Lm Đaminh Nguyễn Văn Hạnh, OP, Lm Giacôbê Đỗ Mai Năm, Ông Lý Trưởng Micae Nguyễn Huy Mỹ, Ông Trùm Antôn Nguyễn Đích, Lm Giuse Đặng Đình Viên, Lm Phêrô Nguyễn Văn Tự, OP, Y sĩ Hoàng Lương Cảnh, Lm Jaccard Kính, MEP, Chú Tôma Trần Văn Thiện, GM Borie Cao, MEP, Lm Phêrô Võ Đăng Khoa, Lm Vinh Sơn Nguyễn Thế Diễm, Thầy Phaolô Nguyễn Văn Hào, Thầy Phêrô Nguyễn Văn Đường, Thầy Phêrô Vũ Văn Truật.

– 13 thánh tử đạo đã bị hành quyết trong năm 1839, cũng dưới sắc lệnh 1838 và tăng cường với 2 sắc lệnh 29.07.1839 và 03.10.1839: Lm Đaminh Tước, OP, Binh sĩ Augustinô Phạm Viết Huy, Binh sĩ Nicola Bùi Đức Thể, Binh Sĩ Đaminh Đinh Đạt, Lm Tôma Đinh Viết Dụ, OP, Thầy Phanxicô Xaviê Hà Trọng Mậu, Ông Stêphanô Nguyễn Văn Vinh, Thầy Đaminh Bùi Văn Úy, Ông Nguyễn Mới, Ông Tôma Nguyễn Văn Đệ, Lm Anrê Trần An Dũng (Lạc), Lm Phêrô Phạm Văn Thi. Đến năm 1840,

– 15 vị đã bị bức tử, do những sắc lệnh trên và tăng thêm với sắc lệnh ngày 03.10.1839: Lm Phaolô Phạm Khắc Khoan, Thầy Gioan Baotixita Đinh Văn Thành, Thầy Phêrô Nguyễn Văn Hiếu, Lm Giuse Đỗ Quang Hiền, OP, Lm Luca Loan, Thầy Tôma Toán, Ông Antôn Nguyễn Hữu Năm, Thầy Phêrô Nguyễn Khắc Tự, Lm Đaminh Trạch, OP, Lm Giuse Nguyễn Đình Nghi, Lm Phaolô Ngân, Lm Martinô Tạ Đức Thịnh, Ông Martinô Thọ, Ông Gioan Baotixita Cỏn, Y sĩ Simon Phan Đắc Hòa [15].

5. Vua Thiệu Trị (1840-1847) cấm đạo vì cho rằng người Công Giáo là lý do khiến người Pháp đến nước Nam và nghi rằng họ tiết lộ kế hoạch (của triều đình) cho người Pháp. Sang đời vua Thiệu Trị, mặc dầu trong một vài địa phương đã có phần giảm độ gắt gao, nhưng cuộc bách hại vẫn tiếp tục, nghĩa là vua vẫn để cho thi hành những sắc lệnh đã được công bố đời vua Minh Mạng. Hai thánh đã bị tử đạo. Tại Phúc Nhạc (Ninh Bình) Nữ Thánh Inê Lê Thị Thành (tức bà Thánh Ðê, vị nữ Thánh duy nhất trong 117 Thánh Tử Ðạo) bị bắt ngày 11-4-1841, vì can tội chứa chấp “đạo trưởng”, tức hai linh mục Thừa sai Berneux và Galy. Bà đã anh dũng xưng đạo và cam chịu mấy cuộc tra tấn dã man đến chết trong tù ngày 12-7-1841 tại Nam Ðịnh. Tại Hà tĩnh, Linh Mục Phêrô Khanh bị bắt ngày 29-1-1842 và bị trảm quyết ngày 12-7-1842.

Vào tháng 03 năm 1847, sau khi thất bại trong cuộc tranh chấp với đoàn tầu Pháp tại Cửa Hàn, vua phản ứng bằng cách đổ hết tội lỗi trên đầu người Công Giáo, và ngày 3/05/1847 ban hành hai sắc lệnh lùng bắt các linh mục Thừa Sai ngoại quốc. Theo sắc lệnh này, thánh Mattêô Lê Văn Gẫm bị bắt ngày 8-6-1846 và bị xử trảm ngày 11-5-1847 [16].

6. Vua Tự Ðức (1847-1883) cấm đạo vì cho rằng Ðạo Công Giáo không chỉ là “Tả Ðạo” mà còn tệ hơn nữa, là một tôn giáo xấu xa “một dịch tễ“; coi người công giáo là kẻ nội thù và phải tận diệt. Nếu tính số Sắc lệnh bắt đạo, dưới thời Tự Ðức lên tới 13 Sắc lệnh ký vào những năm 1848, 1851, 1855, rồi năm 1857: 4 Sắc lệnh; năm 1859: 3 Sắc lệnh; và năm 1860: 4 Sắc lệnh sau cùng. Nhiều lệnh như thế minh chứng ý chí nhà vua muốn tận diệt đạo Thiên Chúa bằng mọi giá, và tận diệt suốt trong 30 năm chấp chính. Chúng ta sẽ thấy nội dung những Sắc lệnh đó khủng khiếp tới mức nào!

Sắc lệnh: 7/06/1857): truyền các cơ quan chính quyền phải ráo riết bài trừ Tả đạo. Lệnh cho các xã ủy, cai tổng (Sắc lệnh: Tháng 5 năm 1857). Ai không tuân theo sẽ bị cách chức (Sắc lệnh 7/06/1857). Lệnh cho Triều đình và các quan địa phương (Sắc lệnh 24/08/1857).

Phải bắt tất cả các tầng lớp Công Giáo: Hết mọi thanh niên trên 15 tuổi phải trình diện thường xuyên theo thời gian nhất định (Lệnh 17/01/1860). Người Công Giáo, dù học giỏi, có khả năng, cũng không được bổ nhiệm giữ chức vụ nào (Sắc lệnh 18/09/1855). Ðặc biệt giới ngư phủ: vì họ luôn luôn di chuyển và thường là chỗ ẩn náu cho các đạo trưởng (Sắc lệnh 18/09/1855). Những người chứa chấp đạo trưởng sẽ bị phân thây và buông sông (Sắc lệnh 30/03/1851). Giáo dân không chịu đạp lên Thánh Giá sẽ bị khắc hai chữ “Tả Ðạo” trên mặt và đi đầy biệt xứ (Sắc lệnh 18/09/1855). Ai cố chấp xưng đạo: đàn ông sẽ bị cưỡng bách tòng quân, đàn bà bị tuyển làm nội trợ cho các quan (Sắc lệnh 7/06/1857). Bắt các thành phần trong Hội đồng giáo xứ (Sắc lệnh tháng 10/1859). Binh sĩ Công Giáo không đạp ảnh Thánh Giá sẽ bị giải ngũ, bị khắc hai chữ Tả Ðạo và bị đầy chung thân (Sắc lệnh Tháng 12/1859). Giới Quan lại Công Giáo, cả những ai đã chối đạo cũng bị cất chức. Những ai trung kiên sẽ bị trảm quyết (Sắc lệnh 15/12/1859). Các Nữ tu: không được cấp giấy thông hành để di chuyển ngoài địa phương mình đang ở, vì họ là những liên lạc viên đắc lực. Ai không tuân lệnh sẽ bị tù chung thân, hay làm nội trợ cho các quan (Sắc lệnh 17/01/1860 và Sắc lệnh tháng 7/1860). Các Linh mục Việt Nam: đạp Thánh Giá hay không đều bị phân thây để nêu gương; Ngoại quốc: bị trảm quyết, đầu phải treo luôn trong 3 ngày, rồi buông sông hay ném xuống biển (Sắc lệnh 15/09/1855).

Các cơ sở Công Giáo (nhà thờ, nhà xứ, tu viện, nhà trường) bị đốt phá và tiêu hủy (Sắc lệnh 18/09/1855 và Sắc lệnh 8/12/1857). Nhất là cơ sở tại Vĩnh Trị: phải bình địa hóa triệt để (Sắc lệnh 1/12/1857).

Những khổ hình dã man nhất: Phân sáp (1860) gồm 5 khoản: Khoản 1: Hết mọi người theo đạo Thiên Chúa, bất cứ nam nữ, giầu nghèo, già trẻ đều bị phân tán vào các làng bên lương. Khoản 2: Tất cả các làng bên lương có trách nhiệm canh gác những tín hữu Công Giáo: cứ năm người lương canh gác một người Công Giáo. Khoản 3: Tất cả các làng Công Giáo sẽ bị phá bình địa và tiêu hủy. Ruộng đất, vườn cây, nhà cửa sẽ bị chia cho các làng bên lương lân cận, và các làng bên lương này có nhiệm vụ phải nộp thuế hằng năm cho Chính Phủ. Khoản 4: Phân tán nam giới đi một tỉnh, nữ giới đi một tỉnh khác, để không còn cơ hội gặp nhau, con cái thì chia cho những gia đình bên lương nào muốn nhận nuôi. Khoản 5: Trước khi phân tán, tất cả giáo dân nam nữ và trẻ con đều bị khắc trên má trái hai chữ Tả Ðạo và trên má bên phải tên tổng, huyện, nơi bị giam giữ, như thế không còn cách nào trốn thoát.

Pháp luật nghiêm khắc như thế, thảo nào số người Công Giáo bị ngã gục đã lên cao: trong tổng số 117 vị Thánh Tử Ðạo, 50 vị đã hy sinh mạng sống dưới đời Tự Ðức!

Ðọc lại trang sử rùng rợn trên đây chúng ta tự hỏi: con người với nhau, cùng là công dân một nước, cùng nói một ngôn ngữ, cùng sống một giang sơn, cùng đóng góp nghĩa vụ chung, tại sao lại có thể tàn bạo với nhau đến thế? Những Linh Mục, Tu Sĩ, Giáo Dân Việt Nam thời xưa là những công dân tốt lành, họ truyền bá những điều hợp lý, họ sống đời sống gương mẫu, họ ăn ở lương thiện bác ái. Có những người bị bắt bớ vì tín ngưỡng, bị đeo gông cùm, nhưng nhiều lần được cả lính canh gác ngục tù cảm phục, tôn kính; nhiều lần trên pháp trường được cảnhững lý hình xin lỗi, thanh minh trước khi giơ tay hành quyết, tại sao họ bị bao vây tầm nã, bị đối xử dã man, tệ hơn những tội nhân phản loạn, bị coi rẻ hơn những thành phần bất hảo? Theo lý luận trần gian, sự kiện lịch sử làm cho chúng ta điên đầu không tìm ra câu giải đáp!

Nhưng rồi ngửa mặt lên nhìn vào cây Thập Giá. Từ đây một ánh sáng thiêng liêng sẽ cho chúng ta nhận thấy trong loài người ai đã thánh thiện bằng Chúa Kitô, ai đã thi ân cho nhân loại bằng Ngài, qua giáo lý Ngài công bố, qua phép lạ Ngài làm, qua đời sống trong sáng Ngài nêu cho cả thếgiới? Nhưng rồi ai đã phải chết đau khổ bằng Ngài và như Ngài? Chính Chúa Giêsu hồi xưa đã tiên báo: “Thầy phải đi Giêrusalem, ở đó sẽ phải chịu nhiều đau khổ, sẽ phải tử nạn và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Matt. 16,21). Sở dĩ Chúa đi chịu chết (và sau có phục sinh) là để: “Nhân danh Ngài sự ăn năn thống hối và ơn tha tội sẽ được lan truyền khắp nơi bắt đầu từ Giêrusalem” và Ngài trao cho các Tông Ðồ sứ mệnh “làm chứng nhân về tất cả những sự kiện đó” (Luc. 24,48-68).

Tự Ðức là vua sau cùng đã bách hại đạo Công Giáo, ý muốn của nhà vua là tiêu diệt tận gốc. Nhưng nhà vua, cũng như các người bách hại đạo Công Giáo trên thế giới, đâu có ý thức được rằng: đạo Thiên Chúa xây đắp không phải trong ranh giới thời gian, trong lãnh vực địa dư quốc gia, nhưng là được củng cố trong lương tâm, trong tâm hồn nhân loại, làm sao mà tiêu diệt nổi? Ðạo Thiên Chúa được mở rộng biên cương, được phát triển không phải bằng những phương tiện kinh tế, vật chất, binh đao, nhưng bằng một luật tiến triển siêu nhiên: “Hạt giống gieo xuống đất mà không mục nát sẽ không sinh hoa trái, nhưng nếu mục nát đi nó sẽ sinh nhiều hạt khác” (Gio. 12,24-25).

Theo những chỉ dụ cấm đạo này, số người đã bị bức tử vì theo đạo Thiên Chúa đã lên rất đông, trong đó 50 vị đã được phong hiển thánh tử đạo. 4 vị bị bức tử theo sắc lệnh 1848 và 1851: Lm Augustinô Schoeffer Đông, MEP, Lm Louis Bonnard Hương, Lm Philipphê Phan Văn Minh, Ông Trùm Giuse Nguyễn Văn Lựu. 2 vị với sắc lệnh 1854: Ông Trùm Anrê Thông, Lm Laurensô Nguyễn Văn Hưởng. 4 vị đã tử đạo sau các sắc lệnh trên, thêm với sắc lệnh 1857: Lm Phaolô Lê Bảo Tịnh, Quan Micae Hồ Đình Hy, Thầy Phêrô Đào Văn Vân, GM Giuse Diaz Sanjurjo An.

Các sắc lệnh phân sáp và tận diệt người công giáo trong các năm 1860, 1861 và 1862 đã gây ra sự tang thương tàn khốc dã man chưa từng thấy: 115 linh mục bị tử đạo; 2.000 nữ tu trong 80 tu viện bị phân tán, trong đó hơn 100 tử đạo; Trên 10.000 đầu mục bị bắt; Hơn 2.000 họ đạo bị hủy diệt; Trên 300.000 giáo dân bị phân tán trong các làng bên lương, trong đó, khoảng 40.000 bị thiệt mạng. Trong tất cả những người tử đạo này, 40 vị đã được phong hiền thánh: GM Melchior Sampedro, Cai Đội Phanxicô Trần Văn Trung, Lm Đaminh Mầu, Cai Tổng Luca Phạm Viết Thìn, Quan Án Phạm Viết Khảm, Cai Đội Giuse Tả, Lm Phaolô Lê Văn Lộc, Lm Daminh Cẩm, Ông Phaolô Hạnh, Ông Trùm Emmanuel Lê Văn Phụng, Lm Phêrô Đoàn Công Quí, Lm Tôma Khuông, Cai Đội Giuse Lê Đăng Thị, Lm Phêrô Phanxicô Néron Bắc, MEP, Lm Théophane Vénard Ven, MEP, Lm Phêrô Nguyễn Văn Lựu, Lm Giuse Tuân, Lm Gioan Hoan, Ông Matthêô Nguyễn Văn Đắc, Lm Phêrô Almato Bình, OP, Thầy Giuse Nguyễn Duy Khang, GM Girôlamô Hermosilla, GM Berrio Ochoa, GM Stéphane Théodore Cuénot, Ông Giuse Tuân, Ông Laurensô Ngôn, anh Giuse Túc, Ông Đaminh Ninh, Ông Trùm Phaolô Đổng, hai cha con Đaminh Huyện và Đaminh Toái, Ông Vinh Sơn Dương và các bạn, hai cha con Phêrô Dũng và Phêrô Thuần, Đaminh Nguyện, Vinh Sơn Tường, Đaminh Mạo, Anrê Tường, Đaminh Nhì, Phêrô Đa [17].

7. Nhóm Văn Thân (1874-1886) với khẩu hiệu “Bình Tây, Sát Tả”, đã đốt phá cả ngàn làng công giáo và giết hại có tới 60.000 tín hữu. Chính lý ra những cuộc bách hại chấm dứt dưới thời Tự Ðức, vì theo khoản 9 Hiệp Ước Giáp Tuất ký giữa Việt Nam và nước Pháp, ngày 15/03/1874, vua Tự Ðức đã ký nhận “quyền tự do theo đạo và hành đạo của người Công Giáo“. Tuy nhiên lịch sử còn ghi chép: sau vua Tự Ðức sự bắt bớ Cộng Ðoàn Công Giáo Việt Nam vẫn tiếp tục, không kém phần dữ dội tàn bạo, và diễn tiến trong hoàn cảnh rối ren khác biệt.

Các vua kế vị Tự Ðức: Hiệp Hòa lên chấp chính được 4 tháng rồi sau đó bị ép buộc phải uống thuốc độc quyên sinh. Kiến Phúc lên ngôi hồi mới 15 tuổi. Hàm Nghi lên kế vị lúc còn 12 tuổi. Do đó mọi quyền điều khiển quốc sự, giữa lúc đang phải đương đầu với ngoại bang, đều nằm trong tay hai vị đại thần: Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết. Kết quả đưa đến chỗ không may mắn: do hai Hiệp ước 1883 và 1884 một phần lãnh thổ Việt Nam và quyền hành cai trị quốc gia sang tay người ngoại quốc!

Do đó từ năm 1874, phong trào Văn Thân nổi dậy từ đất Nghệ An, do hai người tú tài là Trần Tấn và Đặng Như Mai, lập khẩu hiệu “Bình Tây, Sát Tả” (đuổi quân Tây diệt Tả Ðạo), lộng quyền trên đất nước, đặc biệt vùng Nghệ Tĩnh [18] và con vật hy sinh, một lần nữa, lại là nhân dân Công Giáo rải rác trên toàn quốc! Cuộc bách hại tàn ác vì lợi dụng hoàn cảnh “đục nước béo cò“: chỉ trong mấy năm Văn Thân, số người Công Giáo bị tàn sát vì Tín ngưỡng đã lên cao gần bằng tổng số tín hữu đã hy sinh trong hơn hai thế kỷ bách hại, từ đời các chúa Trịnh, Nguyễn, cho tới hết đời Tự Ðức.

Những cuộc tàn sát thật ác liệt rùng rợn: từng lớp người, kể ra từng trăm từng ngàn, cứ mỗi lần phải qua một cơn bách hại là cứ tiếp tục ngã xuống, như những trái sung rụng trước cơn gió lộng! Người ta ước lượng: dưới thời các chúa Trịnh, Nguyễn, và Tây Sơn, chừng 30,000 giáo dân bị giết; dưới thời ba vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Ðức, chừng 40,000 tín hữu bị xử tử hay chết trong lao tù. Nhưng dưới thời Văn Thân có tới trên dưới 60,000 người dân Công Giáo bị sát hại, chỉ vì là thành phần trong dân Thiên Chúa. Linh mục Ð. Trần Văn Phát, hồi xưa Tổng Quản Giáo Phận Huế, còn đi xuống những chi tiết “độ 100000 đấng Tử Ðạo: ước 58 vị Giám Mục và Linh Mục ngoại quốc, 150 vị Linh Mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 1 chủng sinh, 270 Chị Dòng Mến Thánh Giá và 99182 giáo dân” [19].

Trên đây chúng ta vừa xem qua 7 lý do khiến các vua quan đã cấm đạo Thiên Chúa và giết hại các tín hữu, tựu trung đều là vì lý do tôn giáo. Qua 7 thời đại cấm đạo khác nhau, từ thời các chúa Nguyễn (1615-1778) ở Đàng Trong, các chúa Trịnh (1627-1786) ở Đàng Ngoài, qua Nhà Tây Sơn (1775-1800), các vua Nhà Nguyễn: Minh Mệnh (1820-1840), Thiệu Trị (1840-1847), Tự Đức (1847-1883), đến nhóm Văn Thân (1885-1886), các lý do nêu ra đều không phải là chính trị hay xã hội. Nhưng tất cả đều là tôn giáo. Trong hai triều đại Thiệu Trị và Tự Đức, kèm theo lý do chính là tôn giáo, còn thấy nêu ra lý do chính trị. Chúng ta có thể kết luận rằng lý do chính khiến các vua chúa Việt Nam cấm đạo, diệt đạo và thảm sát các tín hữu Công Giáo là lý do tôn giáo. Họ cấm đạo và giết giáo hữu vì cho rằng Nho Giáo là chính đạo, chỉ có Nho giáo mới có quyền tồn tại, và các đạo khác phải bị tiêu diệt. Luật pháp của nhà Nguyễn và cả của nhà Lê đều qui định chỉ có Nho giáo là chính đạo, Nho giáo là độc tôn, còn tất cả các đạo khác đều là tà đạo, kể cả đạo Phật [20].

Qua 7 thời đại cấm đạo trên, tổng số các vị tử đạo ước lượng khoảng 130.000. Trong số 130.000 người đã bỏ mình vì đức tin, có 117 vị đã được Giáo Hội nâng lên hàng Chân Phúc, qua bốn đợt:

– Năm 1900 Đức Giáo Hoàng Lêô XIII ban Sắc Chỉ Fortissimorum Virorum (Những con người anh dũng) ngày 27.5.1900 đã tôn phong 64 vị.

– Năm 1906 Đức Giáo Hoàng Piô X ban Sắc Chỉ Martyrum Purpurata Sanguine (Máu Đào Tử Đạo) ký ngày 15.4.1906 trong Acta S. Sedis, vol. 40 (1907), pp. 203-3211, ngày 20.5.1906 đã tôn phong 8 vị.

– Năm 1909 Đức Giáo Hoàng Piô X ban Sắc Chỉ Martyrum Purpurata Sanguine ký ngày 11.4.1909 trong Acta S. Sedis, vol. 1, pp. 452-458, ngày 2.5.1909 đã tôn phong 20 vị.

– Năm 1951 Đức Giáo Hoàng Piô XII ban Sắc Chỉ Albae ad Messem (Đồng lúa đã chín) ký ngày 29.4.1951 trong Acta Ap. Sedis, vol. 43, pp. 305-310, đã tôn phong 25 vị.

Và ngày 19.06.1988 trước 80.000 người tham dự, 117 vị Chân Phước Tử Đạo trên đây đã được tuyên phong Hiển Thánh bởi Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tại Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô, Rôma.

Theo quốc tịch, thành phần 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam được chia ra như sau:

– 11 vị người Tây Ban Nha: 6 giám mục và 5 linh mục thuộc Dòng Đa Minh.

– 10 vị người Pháp: 2 giám mục và 8 linh mục Hội Thừa Sai Paris.

– 96 vị người Việt Nam: 37 linh mục, 16 thầy giảng, 1 chủng sinh và 42 giáo dân.

Theo thời gian, các Ngài đã hy sinh tính mạng làm chứng nhân cho Chúa trong các triều đại:

– Chúa Trịnh Doanh (1740-1767): 2 vị

– Chúa Trịnh Sâm (1767-1782): 2 vị

– Vua Cảnh Thịnh (1782-1802): 2 vị

– Vua Minh Mạng (1820-1840): 58 vị

– Vua Thiệu Trị (1840-1847): 3 vị

-Vua Tự Đức (1847-1883): 50 vị

Theo các khổ hình phải chịu, các Ngài đã phải hành xử như sau:

– 76 vị bị xử trảm quyết (bị chém rơi đầu)

– 21 vị bị xử giảo (bị giây thừng thắt cổ)

– 9 vị bị tra tấn và chết rũ tù

– 6 vị bị thiêu sống

– 5 vị bị lăng trì (bị phân từng mảnh thân thể, bị xẻo từng miếng thịt)

Nghe lời chủ chăn, về dự Đại Hội Lộ Đức từ 01 đến 05 tháng 08 năm 2013 để “Mừng 25 năm tuyên phong các thánh Tử Đạo Việt Nam – Sống Đức Tin theo gương tiền nhân”, các Công Đoàn Công Giáo Việt Nam tại Pháp cùng nhau dâng lời hoan ca:

“Đây bài ca ngàn trùng dâng về Thiên Chúa,
Bài ca thấm nhuộm máu hồng,
từng đoàn người anh dũng tiến lên hy sinh vì Tinh yêu”

Paris, ngày 26 tháng 07 năm 2013
Trần Văn Cảnh

Ghi chú

1. Ðức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ, Giáo Hội Việt Nam, Những thời kỳ bị bách hại và những sắc chỉ cấm đạo; Hoa Kỳ: 1987. (http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/veritas/index.html)

2. LM Nguyễn Hồng: Lịch sử truyền giáo Việt Nam, quyển 1; Sài Gòn: Hiện Tại; 1959, tr. 22, 25, 27, 32, 53-54, 61, 97.

3. Trần Trọng Kim: Việt nam sử lược, q. II; Fort Smith: Sống Mới; 1978, tr. 150-152.

4. LM Nguyễn Hồng, Sđd; tr. 23-31.

5. Ibid.; tr. 80-82.

6. Vũ Thành: Dòng máu anh hùng, tập 2; Franklin: Phong trào Thanh Sinh Công tại Hoa Kỳ; 1987; tr. 3-7.

7. Đỗ Quang Chính: Tản mạn lịch sử Giáo Hội Công Giáo Việt Nam; San Diego – Montréal: Antôn & Đuốc sáng; 2005; tr. 76-

8. LM Nguyễn Hồng: Sđd, tr. 64

9. Ðức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ: Sđd.

10. Vũ Thành: Sđd, tập 1, phần I, ch. 2

11. Ibid, III, 4

12. Ibid. III, 3

13. Ibid. III, 2

14. Ðức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ: Sđd.

15. Vũ Thành, Sđd, tập 2, tr. 10-495.

16. Vũ Thành, Sđd, tập 3, tr. 18-23

17. Vũ Thành, Sđd, tr. 50-329

18. Trần Trọng Kim, Sđd, tr. 289-290

19. Ðức Ông Vinh Sơn Trần Ngọc Thụ: Sđd

20. Phan Phát Huồn, CSSR, Việt Nam Giáo Sử; Long Beach: 1997; tr.398.


Bài 2: CHÍNH SÁCH CẤM ĐẠO CỦA VUA MINH MỆNH

Nói về vua Thánh Tổ, niên hiệu Minh Mệnh, Sử gia Trần Trọng Kim viết: “Vua Thánh Tổ là một ông vua có tư chất minh mẫn,.. Ngài tinh thâm Nho học, sùng đạo Khổng Mạnh, cho nên không ưa đạo mới, cho là một tả đạo lấy trời thánh ra mà làm mê hoặc lòng dân. Bởi vậy, ngài mới nghiêm cấm và trừng trị những người theo đạo Gia-tô” [1]. Đối với người Công Giáo, thì trong lịch sử bắt đạo ở Việt Nam, cuộc bắt đạo dưới thời vua Minh Mệnh là nổi bật về thái độ thù ghét đạo Công Giáo hơn cả và là cuộc bắt đạo tàn bạo và rất khoa học. “Vua Minh Mệnh độc ác đến nỗi các thừa sai phải gọi ông là Néron Việt Nam hay có trái tim Néron” [2]. Ít giao tiếp với các thừa sai, vua Minh Mệnh đi tìm một lập trường của mình trong các sách cổ Trung Hoa và đưa lý thuyết Nho Giáo lên địa vị độc tôn, vì Nho Giáo củng cố chế độ quân chủ chuyên chế. Chính vì mộng ước muốn biến mình thành chúa tể mà vua Minh Mệnh đã nổi giận trước thái độ suy tôn một Thiên Chúa của người Công Giáo và coi Hoàng Ðế chỉ ở bậc thứ nhì. Vua Minh Mệnh coi đạo Công Giáo do ngoại nhân đem vào là một xỉ nhục cho quốc gia, một tai họa cho dân chúng. Với vua Minh Mệnh, trong nước không thể có hai vua cũng như không thể có hai tôn giáo, đã có Nho Giáo rồi thì không thể có đạo Thiên Chúa thờ Chúa trời đất. Chính sách cấm đạo Thiên Chúa của vua Minh Mệnh có suy tính, có đường hướng, có phương pháp, có dậy bảo, có sửa trị, có đề nghị, có quyết định, có trừng trị, có phối kiểm, có cải tiến. Nhưng mục tiêu không hề thay đổi: Tiêu diệt đạo Công Giáo.

Nhịp độ bắt bớ người Công Giáo tùy thuộc vào hoàn cảnh chính trị trong nước, và có thể được chia thành hai giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất khi chưa nắm vững ngai vàng vì còn nhiều cựu thần và giặc giã (1820-1833), vua Minh Mệnh còn dè dặt trong cuộc bách hại đạo Công Giáo, nhưng đã tìm được một căn bản dựa vào hai kiến nghị của các quan Bộ Lễ năm 1826 và bộ Hình năm 1830. Giai đoạn thứ hai sau khi đã dẹp xong giặc giã và củng cố được lớp quan lại trung thành và mù quáng với chế độ quân chủ, vua Minh Mệnh thẳng tay thi hành chương trình tiêu diệt đạo Công Giáo, khi mạnh, lúc nhẹ: mạnh với chỉ dụ 06.01.1933, nhẹ với 10 điều huấn dụ; mạnh với sắc lệnh 25.01.1836, và dữ tợn với các lệnh trong hai năm 1837-1838 và 1839.

1. Kiến nghị tháng 8-1826 của quan Lễ Bộ xin cấm đạo để tái lập tập tục cũ: “Hết lòng kính sợ, chúng thần khấu đầu dâng kiến nghị này. Dám xin Hoàng Thượng để tâm đến việc tái lập chính đạo để dân chúng lớn bé được nhờ, bởi vì tà đạo lợi dụng và lừa dối dân chúng, làm sai lạc chân đạo tự nhiên. Thật vậy sách có viết: phải trấn áp tà đạo vừa sai trái vừa nghịch lại với trật tự. Nhân dân phải noi theo điều ngay lẽ phải phù hợp với đạo tự nhiên. Nhưng trên hết phải cấm tuyệt đối đạo nào ngược lại với đạo thờ ông bà và phải củng cố nhân tâm, vạch ra sai lầm của tà đạo đang khuyến dụ và lừa dối dân chúng. Ðạo Ðường, đạo Mạc và đạo Lão Quân trước hết chỉ dậy yêu và săn sóc chính mình, thứ đến dậy yêu mến tất cả mọi người và sau cùng coi việc khinh chê sự đời là một nhân đức thanh cao. Tuy nhiên các đạo này không dựa trên luật tự nhiên nhưng cũng không trái nghịch luật tự nhiên và không hư hỏng, cũng không làm tổn hại đến phong tục và tập quán như đạo Gia Tô. Ðạo GiaTô là đạo giả dối và nghịch lại với đạo thật vì đạo khuyến dụ dân chúng, lừa dối và lạm dụng lòng đơn thành của người dân, dùng những hình phạt hỏa ngục để làm kinh sợ người yếu đuối, dùng niềm vui nước trời để thu hút người khác. Ðạo còn xử dụng lịch riêng, toà án riêng xét xử các vụ rắc rối. Những người theo đạo này hội họp nhau cúng tế và thờ lạy, hàng ngàn người nối tiếp nhau vào tôn thờ như là tôn thờ chủ tể của quốc gia vậy. Họ công bố con đường họ theo là thánh và tôn vinh những người bước theo đường ấy. Từ khi đạo này xâm nhập vào đất nước, trong khắp các tỉnh có hàng ngàn người tin theo. Những người đã tin theo thì cuồng nhiệt như là mất trí, chạy đi đó đi đây như là người điên.

Các tín đồ của đạo này không tôn kính các thần minh, cũng không cúng tế tổ tiên. Họ giảng đạo, học hỏi và hội họp như là một thói quen. Càng ngày tín đồ đạo này càng đông, họ xây thêm nhiều nhà thờ mới, những cái gai chướng này lan tràn khắp mọi nơi, không có xó xỉnh nào mà không bị tiêm nhiễm. Chính vì lẽ đó chúng thần ngước trông lên hoàng thượng khẩn xin ngài chữa trị các tệ nạn này. Lời của ngài như ngọn cờ triệu tập hằng hà sa số nhân dân về một mối, từ đó các phong tục và luật lệ quốc gia sẽ thống nhất, các lời nói và hành động sẽ hòa hợp với nhau, tất cả những cái hay cái phải sẽ được tuân theo, và thế hệ hiện tại cũng như mai sau tuân giữ các lề luật. Như thế những con đường sai trái được uốn nắn, sự dữ được thay thế bằng điều lành. Tất cả sẽ được thu họp về một mối đó là đạo của vua, của thuần phong mỹ tục và khắp mọi nơi đều khuôn mình theo. Nhưng đạo Gia Tô là một cản trở cho tất cả những canh tân hoàn thiện, mặc dù đã cấm nhưng không tiêu diệt được. Ðạo Khổng đã có từ lâu đời thế mà có nhiều người đang tâm bỏ để theo đạo Gia Tô là đạo cấm dân chúng giữ đạo Khổng.

Chúng thần cũng đã nghiên cứu luật lệ cấm đoán của Trung Hoa viết như sau: Tất cả những người Âu Châu ở trong nước đứng đầu giáo phái lừa dối dân chúng thì phạm tội đại nghịch đáng xử giảo. Còn những người không có chức vị hay chức vị thấp thì phải giam tù để xét sau. Những người để mình bị lừa dối và tuyên xưng đạo này thì phải đầy đi làm nô dịch giữa dân mọi rợ. Những người rao giảng khuyến dụ dân theo đường hư hỏng, những người đàn bà bất trị không biết xấu hổ cũng như những người móc mắt người ốm nếu bị bắt sẽ phải phạt theo trọng tội. Trên hết, các quan văn cũng như võ nếu không trông chừng các quan cấp dưới sẽ bị đưa ra tòa xét xử.

Tất cả những nghiêm cấm trên đây rất đúng và rất đáng khen để ngăn chặn thứ tà đạo. Ðưa nhân dân về phía thuần phong là một điều phải lẽ vì thế khi nghiên cứu sự việc, chúng thần xin hoàng thượng ban lệnh cấm đạo tại khắp các làng, tỉnh, và huyện trong nước để mọi người biết rằng các đạo trưởng và Kitô hữu Âu Châu đang ở bất kỳ nơi nào đều phải trở về nước của họ. Thời hạn là ba tháng, khi đáo hạn họ không được phép ở lại nữa. Còn về các nhà thờ phải triệt hạ, phải đốt các sách đạo, từ rầy về sau cấm dân chúng không được học hỏi tà đạo này nữa. Sau ba tháng, nếu phát giác được người Âu Châu nào còn trốn tránh trong nước thì: người có công tố giác sẽ được hưởng tất cả tài sản của người chứa chấp đạo trưởng Âu Châu trong nhà. Ngoài ra người chứa chấp cũng như lý trưởng sẽ bị khép vào tội đại nghịch. Nếu người Âu Châu vẫn còn lén lút giữa dân chúng và khuyến dụ họ theo tà đạo thì sẽ áp dụng luật của người Trung Hoa. Hơn nữa, nếu các quan có lỗi vì biếng nhác sẽ bị đưa ra tòa xét xử như các tội phạm để sự việc được phân minh và mọi việc được tiến hành đồng đều. Vì nếu áp dụng luật nghiêm khắc thì có hy vọng đưa được dân chúng về đàng lành và chân đạo được tồn tại. Phần chúng tôi là những người kém cỏi đã xét như thế không biết có đúng hay sai, dám xin hoàng thượng cứu xét“[3].

Các quan Bộ Lễ đã chỉ nêu ra được 4 lý do để xin vua Minh Mệnh cấm đạo Gia Tô. Không một ý do nào đã đưa ra được cái xấu nội tại của đạo Gia Tô: 1- Ðạo GiaTô là đạo giả dối và nghịch lại với đạo thật là Ðạo Khổng đã có từ lâu đời thế mà có nhiều người đang tâm bỏ để theo đạo Gia Tô là đạo cấm dân chúng giữ đạo Khổng. 2- Dùng những hình phạt hỏa ngục để làm kinh sợ người yếu đuối, dùng niềm vui nước trời để thu hút người khác; 3- Càng ngày tín đồ đạo này càng đông, họ xây thêm nhiều nhà thờ mới, những cái gai chướng này lan tràn khắp mọi nơi, không có xó xỉnh nào mà không bị tiêm nhiễm. 4- Chính vì lẽ đó chúng thần ngước trông lên hoàng thượng khẩn xin ngài chữa trị các tệ nạn này.

2. Kiến nghị của các quan Bộ Hình năm 1830 xin vua bắt đạo và triệt phá các nhà thờ. Vào tuần trăng thứ 9 năm 1830, các quan Bộ Hình do Hình Bộ Thượng Thư đứng đầu dâng kiến nghị xin vua Minh Mệnh bắt đạo và triệt phá các nhà thờ: “Trong các đạo ở nước này có đạo Gia Tô là tệ hại nhất. Ðạo Phật và đạo Lão Quan tuy không hay và có nhiều dị đoan nhưng vẫn còn tốt hơn đạo Gia Tô. Ngày trước Hoàng Ðế Trung Hoa và các Tiên Vương đã nghiêm ngặt cấm đoán đạo vô luân này, nhưng vì các quan biếng trễ không thi hành lệnh chu đáo và không làm tròn nghĩa vụ khiến đạo này tiếp tục làm hư hỏng và tăng số trong nước. Ðây chính là dịp dành cho Hoàng Thượng tối cao, đầy quyền uy và sáng suốt để tiêu diệt hoàn toàn tà đạo này, một thứ đạo chỉ có những người cố chấp và những đàn bà ngu dại nghe theo. Các đạo trưởng phân chia đất nước thành nhiều xứ để cai trị theo ý muốn. Các tín đồ có lòng kính trọng đạo trưởng đến độ vâng lời tối mặt và thông báo tin tức trong nháy mắt từ Bắc xuống Nam. Kính xin hoàng thượng ra chỉ dụ cấm đạo lý sai lầm này. Quốc gia không thể dung thứ được những người mọi rợ đến đây rao giảng đạo. Phải trừng phạt những người nào cho họ trú ngụ. Cũng phải cấm các sách viết bằng chữ mọi rợ. Phải ra lệnh nộp các sách này cho các quan hủy đị Ðồng thời cấm việc đọc kinh dù là âm thầm tại nhà. Ngoài ra phải bắt các thầy giảng và trưởng gia đình đạp ảnh. Có làm như vậy họ mới được tha thứ cho lần thứ nhất. Chúng thần là những người hèn mọn thấp trí, dám dâng thư nàỵ Kính mong hoàng thượng chỉ giáo, muôn đời sẽ nhớ ơn và các thế hệ tương lai sẽ xưng tụng danh của đức vua“[4].

Lý do chính yếu mà các quan Bộ Hình đã nêu ra là vì “Các tín đồ có lòng kính trọng đạo trưởng đến độ vâng lời tối mặt“, ý muốn nói “còn Vua thì họ không vâng phục như vậy“. Đó là tội phạm thượng, khi quân. Lý do này cũng không đưa ra được cái xấu nội tại của đạo mới.

Theo thơ của Ðức Cha Taberd thì Vua Minh Mệnh không trả lời gì về bản tâu trình trên, nhưng các quan ghét đạo đã làm giả chữ “Y nghị” của vua vào bản tâu và đem đến Dinh Cát. Mọi người tin là có lệnh cấm nên thông báo cho nhau, cả Nam lẫn Bắc. Nhà thờ và nhà trường Hồ Phương ở Dinh Cát được giáo dân tháo gỡ. Tỉnh Quảng Nam cũng vậy, các giáo dân gỡ nhà thờ. Tại Bình thuận, một quan huyện bắt giáo dân rỡ nhà thờ nhưng họ không chịu, quan huyện liền cho làng bên lương đến phá. Một người trèo lên bàn thờ đứng giang tay như hình thánh giá và diễu cợt liền bị một cái xà đổ xuống làm ngã bất tỉnh. Trong tháng 11 năm đó người ta nói Huế chỉ có lửa và máu. Một tên lính ở Sài Gòn nghe lệnh phá nhà thờ liền đến phá nhà thờ Chợ Quán, nhưng quan lớn đã ra lệnh đánh hắn 80 đòn.

3. Chỉ dụ cấm đạo 6-1-1833, vì Gia Tô làm mê hoặc thường dân bằng lời rao giảng có thiên đàng hạnh phúc và hỏa ngục khổ sở, không trọng kính đức Phật cũng không thờ kính tổ tiên. Đó là một trọng tội phạm đến chính đạo (Khổng giáo) . Sau thời gian lâu dài chuẩn bị, và các cuộc canh tân guồng máy chính quyền chuyên chế 1831 và 1832 hoàn tất, vua Minh Mệnh đã công bố một chỉ dụ cấm đạo: “Ta, Hoàng Ðế Minh Mệnh, truyền lệnh như sau. Từ nhiều năm nay những người Tây Phương đến đây truyền bá đạo Gia Tô làm mê hoặc thường dân bằng lời rao giảng có thiên đàng hạnh phúc và hỏa ngục khổ sở. Chúng không trọng kính đức Phật cũng không thờ kính tổ tiên. Ðó là một trọng tội phạm đến chính đạo (Khổng Giáo). Hơn nữa, chúng xây cất những nhà thờ, nhà hội to lớn tiếp đón đông đảo dân chúng để dụ dỗ đàn bà và thiếu nữ. Ngoài ra chúng còn móc mắt những người ốm. Không còn gì trái nghịch hơn với lý trí và tập tục. Năm ngoái Trẫm đã trừng phạt hai làng theo đạo này: Dương Sơn và Mông Phụ với ý định làm cho bá tánh biết rõ ý Trẫm muốn họ xa tránh tội ác này mà trở về đường ngay nẻo chính. Và đây là điều Trẫm nghĩ. Mặc dù dân chúng ngu dốt theo đạo này đã đông số, nhưng vẫn còn đủ lương tri biết là hợp hay không và còn dễ dàng dậy dỗ trở về đàng lành. Vì vậy trước hết phải dùng lời khuyên và dậy dỗ đối với họ, nếu họ bất trị thì mới dùng các khổ hình.

Vậy ta truyền cho tất cả những người theo đạo này, từ quan cho chí đến dân đen phải thực tâm từ bỏ nếu họ nhìn biết quyền uy của ta. Trẫm muốn rằng tất cả các quan hãy tỉ mỉ xem xét có còn người Kitô nào sống trong địa hạt của mình và bắt họ tuân phục mệnh lệnh, bắt họ đạp trên ảnh tượng ngay trước mặt mình. Nếu họ làm theo thì sẽ được ân xá. Ðối với các nhà thờ và nhà đạo trưởng các quan phải tịch thu làm kho chung. Từ đây về sau nếu có người nào bị nhận diện hay tố cáo là thực hành những thói tục đáng ghét này sẽ bị trừng trị với hình phạt nghiêm ngặt nhất ngõ hầu có thể tiêu diệt thứ đạo này tận gốc rễ. Ðó là mệnh lệnh của Trẫm, mọi người phải hết lòng tuân giữ. Ngày 12 tháng 11 Âm Lịch, Minh Mệnh nguyên niên thứ 13.”[5]

Trong chỉ dụ này, vua Minh Mạng lấy lại hai lý do các quan đã nêu ra là 1- Đạo Gia Tô không trọng kính Đức Phật, phạm đến chính Đạo Khổng; 2- Chúng xây cất nhiều nhà thờ; 3- đạo Gia Tô làm mê hoặc thường dân bằng lời rao giảng có thiên đàng hạnh phúc và hỏa ngục khổ sở. Và vua đua ra hai vu khống: 1- Không thờ kính tổ tiên (thờ kính cách khác, chứ không phải không thờ kính); 2- Chúng còn móc mắt những người ốm (không hề có chuyện này).

3. Mười điều huấn dụ ngày 15/07/1834 để tiêu diệt niềm tin tưởng Kitô ngay tự trong thâm tâm. Trước tình trạng thiên tai và giặc giã, vua Minh Mệnh có thú tội trước nhân dân và thiết lập năm khắc khổ. Tuy nhiên vua Minh Mệnh vẫn còn quyết tâm bắt đạo Công Giáo. Ngoài sắc lệnh bắt thừa sai và cấm dân chúng thực hành đạo Công Giáo, vua Minh Mệnh muốn thay thế một thứ đạo quốc gia, mô phỏng tổ chức của đạo Công Giáo để lập ra 10 điều huấn dụ, giống như 10 điều răn Công Giáo và 4 ngày lễ để suy tôn các điều răn nói trên. Nội dung 10 điều huấn dụ như sau:

Trong lời nói đầu nhà vua nhắc nhở người Annam tâm nguyện của mình muốn theo bước tiền nhân, và với lòng quan tâm phụ tử đặt ra 10 điều huấn giáo. Nội dung lời quảng diễn đại ý như sau:

1/ Ðôn nhân luân: Trọng tam cương ngũ thường. Hỡi con người, bản tính của nhân sinh là phải biết có luật vua tôi, có liên hệ máu mủ cha con, có phân biệt vợ chồng, có đẳng cấp huynh thứ, có tin tưởng giữa bằng hữu. Ðó là cuộc sống con người và tuân giữ các điều ấy là đạo làm người.

2/ Chính tâm thuật: Làm việc gì cũng cốt phải giữ bụng dạ cho chính đính trong sạch. Thật vậy, cái tâm là chính con người, nếu nó ngay thẳng thì vạn sự lành phát xuất như từ nguồn suối, nếu không nó là lò của trăm sự dữ đổ trên đầu. Ðấng đại thiên đã in sâu trong tâm hồn mọi người đạo tự nhiên: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Ðời sống con người ở tại giữ các nguyên tắc cao cả này. Trẫm ước mong rằng mọi thần dân hãy có tâm hồn tốt, mặc dù hoàn cảnh sống khác nhau, nhưng tất cả hợp cùng nhau tìm kiếm sự thiện. Người giầu đừng có kiêu căng ngạo nghễ, người nghèo đừng gian tham trộm cướp, ước ao giầu sang vượt quá cấp bậc, để ý nghĩ xấu tiêu hao tìm kiếm.

3/ Vụ bản nghiệp: Giữ bổn phận, chăm nghề nghiệp của mình. Phải bằng lòng với cuộc sống của mình, đừng than thân trách phận trời đã sinh ra ta. Hãy làm trọn bổn phận với niềm vui, hãy làm việc hăng hái và bằng lòng. Tất cả, người nông dân, thủ công, thương gia, binh sĩ hãy bằng lòng mãn nguyện.

4/ Thượng tiết kiệm: Chuộng đường tiết kiệm. Hãy xử dụng của trời cách tiết độ, đừng như người hoang phí tiêu thụ tất cả những cái có, rồi phải đói trong suốt năm. Ham mê các thú chơi làm nẩy sinh nghèo đói, trộm cắp và loạn tặc.

5/ Hậu phong tục: Giữ phong tục cho thuần thục.

6/ Huấn tử đệ: Phải dậy bảo con em. Giáo dục gia đình là nền tảng xã tắc.

7/ Sùng chính học: Tránh học thuyết xấu và học hỏi cái hay. Minh Mệnh khuyên đừng để qua ngày nào mà không đọc hay học hỏi cũng như phải coi chừng học thuyết sai lầm. Tất cả lý thuyết sai lầm của đạo Gia Tô đều đi ngược với lý trí và nguy hại cho thuần phong mỹ tục. Những người theo phái này, đàn ông đàn bà sống chung với nhau như những người man rợ (muông thú), nhiều người đã phải đóng vào việc thờ phượng, gieo rắc sự bất hòa khắp nơi, điên rồ tôn kính người phải chết, hủy hoại lời dậy phải lẽ và có hại cho nhân loại. Vậy không thể tin vào đạo như thế. Những người đi lang thang khắp nước truyền bá hãy từ bỏ sớm hết sức. Trái lại mọi người hãy giữ cẩn thận tập tục tiền nhân: các lễ phép thông thường trong việc cưới xin cũng như tang chế trong việc thờ cúng ông bà cũng như thần làng.

8/ Giới dâm thắc: Ðừng giữ những điều gian tà dâm dục. Người có công giữ nhân đức tiết hạnh sẽ được thưởng, trái lại ai lỗi phạm sẽ bị trừng phạt. “Có thể trẫm lập nhà riêng cho họ, có thể trẫm ban bằng khen thưởng để làm gương cho những người khác”.

9/ Thận pháp thủ: Cẩn thận giữ luật pháp. Ðặc biệt là việc nộp thuế.

10/ Quảng thiện hạnh: Rộng rãi làm việc lành.

Kèm theo bản văn 10 điều huấn dụ, vua Minh Mệnh còn có một chỉ dụ về việc phải đón tiếp và giảng huấn hằng năm. Nghi thức đón tiếp bảng 10 điều huấn dụ gồm: phải tổ chức cuộc rước, phải tôn kính kiệu trên vai, phải đặt trong một khám, thỉnh thoảng phải tung hô và lạy phục.

Ðức Cha Havard thuật lại là nhiều nơi người ta đã bỏ ngay việc giảng giải các điều huấn dụ theo lệnh mỗi năm 4 lần. Nơi khác lương dân nói: “Chúng tôi có nhiều việc khác phải làm hơn là đến nghe, như phải nộp thuế, cung phụng cho đức vua“. Thừa Sai Retord cho biết người giáo dân chẳng quan tâm gì đến, còn làng bên lương thì như nằm im trên đám bụi. Chỉ có làng nửa lương nửa giáo gây ra vài rắc rối. Tại Kẻ Voi, người lương bắt người Công Giáo đi rước bản huấn dụ ở quan huyện với chiếc kiệu họ vẫn dùng để rước tượng Ðức Mẹ. Tại Bằng Sơ họ đặt bản huấn dụ vào chén lễ mà họ đã lấy cắp, có thắp nên và đốt hương chung quanh. Họ đánh trắc và bắt người Công Giáo phải cúi lạy. Nơi khác họ bắt người Công Giáo nghe cắt nghĩa luật với họ hai lần mỗi tháng [6].

4. Nội dung sắc lệnh cấm đạo 25-1-1836 là bế quan tỏa cảng và triệt hạ đạo Công Giáo. Sau biến cố dẹp xong loạn Lê Văn Khôi vào năm 1835, và bắt mang về Kinh được những lãnh tụ của dư đảng và cố Marchand DU, thì Vua Minh Mệnh muốn lợi dụng việc bắt được cố Marchand DU trong thành của Lê Văn Khôi để triệt hạ đạo Công Giáo. Vua liền truyền cho các quan làm kiến nghị trước. Ngày 6-1 âm lịch (25-1-1836) các quan trong hội đồng nội các trình lên vua Minh Mệnh kiến nghị mới về việc bế quan tỏa cảng và triệt hạ đạo Công Giáo. Mở đầu, các quan lớn đưa ra những lời vu cáo dựa trên sự kiện Cha Marchand bị bắt trong thành Gia Ðịnh và gán cho vị thừa sai tử đạo này đã thú nhận các điều vu cáo. Kiến nghị viết tiếp: “Các thừa sai dùng bánh nhiệm mầu để mê hoặc dân chúng và làm cho họ cố chấp giữ đạo. Các thừa sai còn lấy mắt người chết pha lẫn vào hương để làm thuốc chữa bệnh. Trong khi cử hành hôn phối, đạo trưởng bắt làm những điều tồi bại. Thừa sai Marchand đã thú nhận tất cả những đồi bại này vì thế cần phải đặt ra những biện pháp mới chống lại các đạo trưởng Tây Phương. Rõ ràng năm 1826 hoàng thượng đã công bố chỉ dụ rất khôn ngoan để ngăn cấm các đạo trưởng xâm nhập quốc gia, nhưng mặc dầu vậy, Marchand đã lén vào được trong nước và ẩn trốn nhiều năm. Có lẽ nhiều thừa sai khác nữa cũng còn ẩn trốn trong nước. Vì thế ngước trông hoàng thượng công bố những biện pháp sau đây: Cấm các tầu buôn mọi rợ không được đến các cửa biển ngoại trừ cửa Hàn. Quan coi cửa biển này phải nghiêm mật trông chừng tất cả mọi người nước ngoài đến đây buôn bán. Phải có phép quan trước mới được xuống đất để buôn bán và suốt trong thời gian này phải có người theo dõi, không được tách rời dù trong bất cứ nhà đặc biệt nàọ Khi họ đã buôn bán xong phải kiểm điểm số người trước khi dẫn lên tầụ Nếu có người nào tìm cách trốn ở lại sẽ bị bắt ngay và phải xử tử. Còn các tầu buôn người Trung Hoa có thể đến tất cả các cảng khác, nhưng vừa tới sẽ bị khám xét ngay và nếu trên tầu có đạo trưởng Âu Tây sẽ bị bắt và xử tử. Các đạo trưởng Âu Tây bắt được trong đất liền cũng phải xử tử. Người oa trữ cũng bị một hình phạt như thế. Các quan cũng sẽ bị trừng phạt xử tử nếu đạo trưởng bị bắt trong địa hạt của họ vì đã không chịu lùng soát cho kỹ để bắt” [7]. Dựa vào kiến nghị này, Vua Minh Mạng đã ra một lệnh cấm đạo và được công bố tại Bắc Việt ngày 02.02.1836. Theo lệnh này Thầy giảng Phanxicô Xaviê Cần, bị bắt ngày 20.04.1836 và bị xử giảo tại Hà Nội ngày 20.11.1836. Rồi Cha Cornay Tân đã bị bắt ngày 20.06.1837 và bị xử lăng trì ngày 20.09.1837 ở Sơn Tây.

5. Lệnh Tàn Sát Người Công Giáo vào hai năm 1837-1838 và 1839.Việc bắt và xử cha Cha Cornay ở Sơn Tây năm 1837 đã làm cho vua Minh Mệnh đổ dồn tâm trí vào việc bắt đạo tại Bắc Việt. Cha Gispert nói rằng vua gửi 5 lệnh tất cả: một lệnh chung cho các quan đầu tỉnh và 4 lệnh cho mấy tỉnh đặc biệt. Tháng 11 năm 1837, tổng đốc Trịnh Quang Khanh, là một người ghét đạo, trông coi Nam định từ cuối năm 1836, bị gọi về kinh chịu khiển trách vì không bắt đạo cho tận tình. Năm 1838, mở đầu cuộc bắt đạo như vũ bão trên khắp các tỉnh Bắc Việt, và từ ngày 7-6 có người tố cáo Thừa Sai Candahl đang lén lút mở trường ở Dương Sơn, cuộc bắt đạo đẫm máu tại Huế bắt đầu. Thừa Sai Delamotte đang trốn tránh tại Nhu Lý đã viết về năm 1838 như sau: “Năm 1838 là một năm khốn nạn và bắt bớ tại Bắc Việt và Trung Việt. Lưỡi gươm bắt đạo đã mặc sức chém giết, nhưng nước trời lại thêm đông số các đấng tử đạo…

Trong một chỉ dụ gửi cho các quan đầu tỉnh năm 1838, vua Minh Mệnh hạ lệnh: “Hãy bắt bớ đánh đập không thương tiếc. Hãy tra tấn. Hãy ra lệnh xử tử tất cả những người từ chối đạp ảnh thánh giá. Hãy biết rằng từ chối đạp ảnh là trở thành người phản nghịch. Không cần xét xử, hãy lấy gươm, búa, giáo, tất cả những gì có trong tay mà tiêu diệt những kẻ mù quáng và cố chấp, đừng để một người nào thoát chạy “[8]. Nguyên năm 1838, đã có 23 thánh tử đạo đã bị giết hại, không kể các vụ bắt bớ khác.

Năm 1839 các vụ bắt bớ ít ồ ạt và dữ tợn hơn. Vua Minh Mạng đã ra 2 sắc dụ. Sắc dụ 29/07/1839 mạt sát đạo Công Giáo qua 6 phần: 1- Buộc tội Công Giáo là không tuân giữ luật nước, đầy dẫy giả dối, giảng dậy những điều phi lý như thiên đàng, thánh giá, nước thánh, các đạo trưởng móc mắt người chết, dụ dỗ đàn bà con gái; 2- những việc đã làm để tận diệt đạo này như các hình phạt sắc dụ; 3- liệt kê các hình phạt dành cho binh lính; 4- liệt kê những lý lẽ các quan phải làm cho lính bỏ đạo Gia Tô mà theo đạo nhà nước; 5- giải thích bổn phận hiếu đễ với cha mẹ để được giầu có và danh giá, người không chịu bỏ đạo sẽ phải trừng phạt và làm điếm nhục cha mẹ; 6- truyền cho tất cả các quan trong nước phải tận tâm giảng dậy các chỉ thị của vua [9].

Sắc dụ 03/10/1839 truyền dựng miếu tại mỗi làng và giảng dạy 10 điều huấn dụ. Sắc dụ viết: “Tất cả các quan đầu tỉnh phải chỉ thị cho các quan cấp dưới sai các cai tổng, lý trưởng những làng có người Công Giáo để giảng dậy và xóa bỏ những sai lầm… Nếu sau khi đã công bố lệnh các quan không tận tình ép buộc được các cai tổng và lý trưởng để thi hành lệnh, và nếu những cai tổng, lý trưởng không nhiệt tâm giáo hóa dân chúng, thì hết thời hạn định, nếu còn các người Công Giáo phản nghịch trong nước, không có dấu hiệu phục tòng bên ngoài nghĩa là ban ngày là lương, nhưng ban đêm lại thực hành đạo và truyền đạo, thì khi ấy phải trừng phạt không thương tiếc tất cả những người Công Giáo bất trị và những viên chức chểnh mảng” [10] Sắc dụ này đã là cơ hội cho bao nhiêu quan bắt ép dân Công Giáo phải góp tiền dựng chùa, trả tiền cho thầy đồ dậy các điều cúng giỗ tại các làng. Chỉ với tiền bạc đút lót, quan mới làm ngơ không bắt dựng chùa, còn thầy đồ vừa được quan trả tiền vừa được dân Công Giáo đút tiền để đừng dậy dỗ những điều sai lầm.

LỜI KẾT

Như vậy, xem qua chi tiết cấm đạo thời vua Minh Mệnh, điều rõ ràng mà ai cũng nhận ra là cuộc bắt đạo của vua Minh Mệnh nổi bật về thái độ thù ghét và là cuộc giết đạo tàn bạo và có phương pháp hơn cả. Khởi đầu với hai kiến nghị: Kiến nghị tháng 06-1826 của quan Lễ Bộ xin cấm đạo để tái lập tục cũ. Kiến nghị của các quan Bộ Hình năm 1830 xin vua bắt đạo và triệt phá các nhà thờ. Tiếp theo là các chỉ dụ, huấn dụ: Chỉ dụ cấm đạo 06.01.1833 vì Gia Tô mê hoặc thường dân, không trọng kính Đức Phật, không thờ kính tổ tiên. Đó là một trọng tội phạm đến chính đạo Khổng Giáo. Mười điều huấn dụ ngày 15.07.1834 để tiêu diệt niềm tin tưởng Kitô ngay tự trong thâm tâm. Và cuối cùng là các lệnh: Lệnh cấm đạo ngày 25.01.1836 bế quan tỏa cảng và triệt hạ đạo Công Giáo. Các lệnh tàn sát người công giáo vào hai năm 1837-1838 và tiếp theo với hai sắc lệnh ngày 29/07/1839 và ngày 03/10/1839. Tất cả các kiến nghị và sắc chỉ, ệnh cấm này, không cái nào nêu ra được một cái xấu nội tại của đạo Gia Tô. Theo chính sách cấm đạo này của vua Minh Mệnh, đã xẩy ra cuộc xưng đạo và bách đạo của 58 thánh tử đạo: 3 vị năm 1833; 2 vị năm 1834; 2 vị năm 1836; 23 vị năm 1938; 13 vị năm 1839; Và 15 vị năm 1840.

Theo sử gia Trần Trọng Kim, trách nhiệm của vua Minh Mệnh trước lịch sử rất to. Vua Minh Mệnh tôn sùng Nho Học, “nghiêm khắc quá, cứ một mực theo cổ, chứ không tùy thời mà biến hóa phong tục, lại không biết khoan dung cho sự sùng tín, đem giết hại những người theo đạo, lại tuyệt giao với ngoại quốc làm thành ra nước Nam ta ở lẻ loi một mình. Đã hay rằng những điều lầm lỗi ấy là trách nhiệm chung cả triều đình và cả bọn sĩ phu nước ta lúc bấy giờ, chứ không riêng chi một mình ngài, nhưng ngài là ông vua chuyên chế một nước, việc trong nước hay dở thế nào, ngài cũng có một phần trách nhiệm rất to” [11].

Trở về Lộ Đức, “Mừng 25 năm tuyên phong các thánh Tử Đạo Việt Nam 1988-2013“, lòng người tín hữu hôm nay không khỏi bồi hồi cảm kích, khi đọc lịch sử tử đạo của thánh linh mục Phêrô Lê Tùy, vị thánh tử đạo mở đầu trang sử đẫm máu cấm đạo của vua Minh Mệnh, bị xử trảm ngày 11/10/1833 và lịch sử tử đạo của thánh Y sĩ Simon Phan Đắc Hòa, vị thánh tử đạo cuối cùng dưới thời cấm đạo của vua Minh Mệnh, bị xử trảm ngày 21/12/1840.

Thánh Lê Tùy là một linh mục già, chân thật, hiền lành, nhân đức, được mọi người quí mến. Còn thánh Simon Hòa, thì cả cuộc đời ngài nêu cao đức tin có sức làm cho con người trở thành một công dân lương thiện, một người cha đức độ, một tông đồ nhiệt thành và một tín hữu trung kiên, anh dũng sống và xưng đạo thánh Chúa Kitô.

Trở về Lộ Đức, “Mừng 25 năm tuyên phong các thánh Tử Đạo Vi ệt Nam 1988-2013“, lòng người tín hữu hôm nay không khỏi bồi hồi cảm kích, khi nghe lại những di ngôn của các ngài, qua miệng thánh Simon Hòa:

Từ khi bị bắt, Thầy Hòa bầy cách cho mọi người phải khai thế nào cho hợp. Người con gái cả, sau làm bà dòng, đã đến thăm, Thầy Hòa nói: “Hãy về nhà với mẹ, chị em giúp đỡ lẫn nhau, còn số phận của cha không thể tránh khỏi cái chết“.

Trong hai tháng bị giam ở Quảng Trị các con cái khác đều đến thăm, Thầy Hòa khuyên: “Cha rất vui mừng tuân theo thánh ý Chúa, các con đừng buồn. Mọi đứa phải vâng lời mẹ con, săn sóc cửa nhà tử tế vì cha không thể lo lắng gì hơn được nữa“.

Về nhà tù ở trấn phủ tại Huế, Thầy Hòa vẫn vui vẻ dọn mình lãnh triều thiên tử đạo. Có người học trò đến thăm, thầy khuyên: “Con đến thăm lần này đủ rồi, đừng đến nữa kẻo lính bắt, các con không chịu được các hình khổ. Sáng chiều con hãy đọc kinh và xin Chúa cho thầy được chịu chém vì đạo thánh Chúa. Khi đầu thầy rơi xuống rồi thì trò hãy năng đến thăm viếng an ủi bà và các con cái thầy. Các trò, thầy cũng coi như con và sẽ theo để phù giúp trên đường đời gian nan”.

Thầy luôn luôn khuyên bảo các người cùng bị giam mạnh sức xưng đạo và vui lòng chịu khổ vì Chúa. Các quan cũng đến dụ dỗ thầy chối đạo để được về với vợ con, thầy nói: “Dầu tôi phải mất vợ mất con mất hết của cải và cả sự sống nữa, tôi cũng không bao giờ bỏ Chúa tôi thờ”.

Với vợ hiền, thầy trối trăn: “Hãy can đảm đừng buồn sầu vì số phận tôi phải chịu. Cái chết của tôi làm vinh danh Chúa”.

Người lương cũng đến dụ ngài bỏ đạo, nhưng ngài khuyên lại họ: “Ðạo tôi dậy chẳng những là phải giữ trong lòng, mà còn phải giữ bề ngoài và xưng ra trước mặt vua quan. Ðạo cũng cấm lừa dối cho nên tôi có chết cũng không bao giờ nói dối hay bỏ đạo theo lệnh vua được” [12].

Paris, ngày 26 tháng 07 năm 2013
Trần Văn Cảnh

Ghi Chú

1. Trần Trọng Kim: Việt nam sử lược, q. II; Fort Smith: Sống Mới; 1978, tr. 185.

2. Vũ Thành, Dỏng máu anh hùng, tập 2, tr. 10

3. Ibid., tr. tr. 20-23.

4. Ibid, tr. 32-33.

5. Ibid.; tr. 34-35.

6. Ibid. tr. 64-67.

7. Ibid. , tr. 86-87

8. Ibid., tr. 115-116

9. Ibid.; tr. 289.

10. Ibid. tr. 290-291

11. Trần Trọng Kim, Sđd, tr. 228-229.

12. Vũ Thành, Sđd, tr. 484-492


Bài 3: CÁC THÁNH TỬ ĐẠO ĐÍCH THỰC LÀ TỬ ĐẠO KITÔ HỮU

Tuyên phong hiển thánh 117 vị tử đạo ở Việt Nam, ngày 19.06.1988 tại Rôma, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã dựa vào Phúc Âm Thánh Matthêu chương X và Thư 1 của thánh Phaolô Gửi Tín Hữu Cô-Rin-Tô để phân tích những nét chính yếu trong những cuộc xưng đạo của các thánh tử đạo ở Việt Nam [1]. Những nét chính yếu này xác định tính chất xác thực tử đạo vì Chúa Kitô. Những nét chính yếu này đã rõ ràng được nhìn thấy trong cuộc xưng đạo và tử đạo của tất cả 117 thánh tử đạo Việt Nam, dẫu rằng mỗi cuộc tử đạo đều có hoàn cảnh cá biệt. Chúng tôi xin dựa vào những sự kiện thực tế của ba vị: Thánh Linh Mục Năm, Thánh Trùm Đích và Thánh Lý Mỹ [2], để đúc kết những nét chính yếu trong việc tử đạo mà ba vị cũng như tất cả 117 vị tử đạo khác đã lãnh nhận tại Việt Nam.

1. Các Ngài đã bị theo dõi, bị tố cáo và bị bắt, nộp cho quan, vì là công giáo. Cả ba thánh đều là những người lương thiện. Cha Năm hiền hòa vui vẻ, tính khiêm nhường, đạo đức, cứ giờ cứ mực mà ra đọc kinh, lại có lòng thương người nghèo khó, khi ăn cơm ngài thường để dành cho kẻ khó một ít. Ông Trùm Ðích là người hiền lành thật thà từ nhỏ, chẳng hề cãi mắng buồn giận ai bao giờ. Ông cũng chẳng chơi bời, cờ bạc rượu chè mà chỉ chuyên chú làm ăn. Ông rất căn cơ mực thước, nên nhà không bao giờ thiếu thốn. Trong gia đình có con ăn đầy tớ, và ông đối xử rất công bằng. Ông Lý Mỹ thương kẻ khó và bố thí cho họ. Có năm mất mùa, thiên hạ đói khổ, ông truyền nấu cháo cho kẻ khó ăn, vì ông sợ cho gạo, họ sẽ ăn xong và đau bụng mà chết. Tuy còn trẻ, nhưng tư cách và uy tín của ông đáng kính phục. Ông là người sắc sảo giỏi giang, ông ăn ở chính trực và ăn nói lý sự mà bặt thiệp. Có lần trong làng khuyết một chân cai tổng, lý trưởng trong làng đến nhà ông xin ông ra làm việc chung, nhưng ông không chịu.

Nhưng cả ba vị đều là công giáo, tin vào Thiên Chúa. Và vì vậy, vua quan Việt Nam ghét bỏ các vị và muốn giết hại các vị. Lệnh vua Minh Mệnh đòi phải xử tử các đạo trưởng, xử tử những người chấp chứa các đạo trưởng, xử tử những quan quyền không tố cáo các đạo trưởng trong địa hạt của mình. Và sự gì phải đến, đã đến. Họ đã cho mật thám giả làm gia nhân, để lấy tin tức. Khi biết rõ tính thế, họ đã đưa lính tráng đến nhà vây bắt.

Khi bị nhận diện, cha Năm đã chẳng chối, mà còn xác nhận: “Phải tôi là cụ đạo đấy“. Do vậy lính tráng đã bắt cha Năm và bắt cả ông trùm Đích giải nộp cho quan. Bấy giờ quan gọi ông Lý Mỹ tới trước mặt và nói:”Tờ giấy này mày tính làm sao? Mày đã ký nhận trong làng không có đạo trưởng, mà nếu khám bắt được đạo trưởng hay là đồ đạo, thì mày xin nộp đầu”? Ông Lý Mỹ thưa vững tiếng rằng: “Bẩm quan lớn, tôi xin chịu tội”. Quan lại hỏi ông: “Làm sao mày dám khinh mạn phép vua như vậy”? Ông Mỹ đáp lại: “Bẩm lạy quan lớn, nếu quan lớn thương thì chúng tôi nhờ hồng phúc của quan lớn, bằng quan lớn bắt tội thì chúng tôi cam chịu”.

Quả đúng như lời Chúa Kitô đã tiên báo về số phận của những người theo ngài. “Anh sẽ nộp em, cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên tố cáo làm cho cha mẹ phải chết. Vì danh Cha, chúng con sẽ bị mọi người ghét bỏ, nhưng ai bền chí đến cùng sẽ được cứu độ” (Mt 10:21-22).

2. Các Ngài đã bị bị đánh đập giữa hội đường, bị điệu ra trước tòa quan quyền vì tin vào Chúa Kitô. Bấy giờ quan tức giận truyền nọc ông Lý Mỹ ra đánh 40 roi đòn. Trong suốt thời gian bị giam giữ, ông Lý Mỹ nhiều lần bị Quan Tổng đốc nổi giận truyền đánh đòn, tính tổng cộng ông Lý Mỹ đã phải chịu đến 500 roi, kể cả ba lần chịu đòn thay cho nhạc phụ. Ông đau lắm song can đảm không kêu than một tiếng nào. Quan đánh xong mới truyền đóng gông giải cả ba người lên tỉnh. Ðến trưa về tới đồn Lục Bộ, quan lại hỏi ông có bỏ đạo không thì cho về, nhưng ông nhất định không chịu bỏ đạo. Ở Lục Bộ, một người huynh thứ trong làng Kẻ Vĩnh đến bàn với ông về việc hối lộ để chuộc ông ra, nhưng ông Lý Mỹ không chịu lại nói rằng: “Xin cám ơn dân có lòng, dân có lòng thì trả ơn dân, nhưng đừng chạy chuộc tội, xin để tiền ấy mà giúp vợ con tôi và làm bữa mừng khi đem xác tôi về”.

Khi đến tỉnh Nam Ðịnh, ông Lý Mỹ cũng bị giam một trại với Cha Năm, và ông trùm Ðích. Về phần Cha Năm các quan biết ngài là đạo trưởng, nên sau mấy lần khuyên nhủ mà vẫn thấy ngài vững lòng nhất định không bỏ đạo, nên cũng chẳng giục ép ngài nữa. Còn ông trùm Ðích đã già nua nên quan cũng không muốn làm khó ông nữa. Chỉ có ông Lý Mỹ bị hành hạ khổ sở hơn hết vì các quan thấy ông còn trẻ trung lại có tài mới ra mật lệnh đánh đập để cho ông sợ mà đành chịu bỏ đạo. Vì thế ông bị hành hạ rất khổ sở trước khi ông bị xử trảm. Ông chẳng những chịu đòn phần mình mà còn vì thương cha vợ là ông trùm Ðích, ông xin chịu đòn thế cho ông trùm. Tính ra ông phải bị đánh đến hơn 500 roi đòn, hai mông rách nát cả thịt ra chẳng còn nơi đâu lành. Cổ chân cổ tay sưng đầy lên vì nọc thẳng quá, và còn bị đeo gông cùm nặng nề. Tuy bị đòn đau như thế mà ông vẫn can đảm không kêu ca. Ðến nỗi có quan phải thốt lên: “Thằng này chết đoạn sẽ làm thành hoàng đất của nó. Thằng này chẳng phải là người vừa đâu”.

Lời Chúa tiên báo cho các tông đồ và cho các môn đệ các ngài trong mọi thời đại, lời tiên báo một cách hết sức rõ rệt, không có úp mở đã xẩy ra cho ba thánh: “Họ sẽ lôi chúng con ra tòa công nghị, sẽ đánh đập chúng con giữa hội đường, sẽ điệu chúng con ra trước vua chúa quan quyền vì danh Cha, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại” (Mt 10:17-18).

3. Các Ngài khi bị tra khảo, có lúc (ông trùm Đích) đã lo sợ, muốn sờn lòng, khi nghĩ đến những hình khổ sẽ phải chịu. Quả thật, cứ lý tự nhiên, nghĩ đến những hình phát dã man mà nhà cầm quyền thời đó đã mang ra xử các vị tử đạo, ai mà không bị tinh thần khủng bố? Bá đao, xử tử với lý hình dùng dao cắt xẻo từng miếng thịt trên thân thể cho đủ 100 miếng. Lăng trì, xử tử bằng chặt chân chặt tay trước khi chém đầu. Thiêu sinh, xử tử bằng thiêu sống. Trảm, xử tử bằng chém đầu. Giảo, xử tử bằng tròng dây vào cổ và kéo hai đầu dây cho đến chết. Rũ tù, xử tử bằng tra tấn, hành hạ đủ cách đủ kiểu, rồi bỏ đói cho tới khi kiệt sức và chết gục trong tù. Hình phạt nào cũng kinh khủng, cũng đáng khiếp sợ. Và chịu chết khổ hình như vậy để làm chứng cho Chúa Kitô tử nạn, sự kiện đó há chẳng phải là khôn ngoan, là mãnh lực vượt mức loài người đó ư? Thần Linh chính là Thần Linh chân lý. Ngài có đã là mãnh lực trong thân xác yếu hèn của con người? Ông Lý Mỹ mỗi lần thấy quan toan đánh ông trùm Ðích thì lại xin quan: “Lạy quan lớn, cha tôi già nua tuổi tác cùng yếu đuối, xin quan lớn tha cho cha tôi, tôi xin chịu đòn thay cho cha tôi”. Quan thấy ông có lòng hiếu thảo, thì ưng tha cho ông trùm Ðích và đánh ông Lý Mỹ. Có lần ông Mỹ chịu đòn thay cho ông trùm Ðích về, thì nói với ông trùm Ðích rằng: “Lạ thay bởi ơn Ðức Chúa Trời thương, khi quan đánh, thì con không thấy đau là mấy”. Ông Trùm Đích có đã nhờ Thần Linh Chúa là mãnh lực mà có thể thành chứng nhân chăng?

4. Nhưng rút cục tất cả các Ngài đều đã can đảm trả lời xưng đức tin một cách công khai và rõ rệt, để làm chứng rằng đạo Thiên Chúa là đạo thật. Nhưng Thánh Thần Chúa đã đến khuyên bảo và khích lệ ông Trùm Đích qua miệng của cha Năm và của các con cái ông, như ông Lý Mỹ, ông Lý Thi. Ông trùm Đích trở thành mạnh dạn, can đảm.

Khi Quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh dùng mọi phương thế, từ thuyết phục đến tra tấn, để bắt ông trùm Đích bỏ đạo: “Ông đã cao niên, các con đã trưởng thành, các cháu chắt đông đảo, có nhà cửa phong lưu, ông hãy quá khóa để vui hưởng tuổi già với đàn con cháu có hơn không?”. Ông trùm Đích trả lời với giọng vững vàng: “Thưa quan, con cháu chi cũng mặc, tôi đã lo liệu cho chúng. Tôi có bổn phận tôn thờ Thiên Chúa, quan tha hoặc kết tội thì tùy, chứ đừng ép tôi bỏ đạo”.

Quan truyền khiêng ông qua Thánh Giá nhưng ông co hai chân lên, tức giận quan truyền đánh đòn ông. vì phải mang gông xiềng, bị tra tấn lại thấy mình già nua yếu đuối, có lúc ông tưởng không chịu nổi gian truân thử thách đến cùng, nhưng may mắn ông vẫn kiên trung tới ngày tử đạo, nhờ ơn Chúa giúp, nhờ sự khuyên nhủ của cha Năm, nhờ lời khích lệ của các bạn tù, nhất là nhờ tấm lòng hy sinh cao cả của con rể chí hiếu, Micae Lý Mỹ. Ông Lý mỹ sau khi lãnh phần mình xong, ba lần chịu đòn thay cho nhạc phụ, ông trùm Đích được mang gông nhẹ hơn.

Thấy không thể khuyên dụ ông trùm Đích bỏ đạo, quan làm sới tâu về kinh. Đây là nội dung sớ tâu luận tội: “Tên Đích tin theo và thực hành tà đạo, dù đã bị cấm. Đã không nộp đạo trưởng Mai Năm cho quan, lại còn chứa chấp, không nghe lời khuyên cáo dạy bảo, nhất là không chịu quá khóa, thật là người cố chấp, bất tuân luật nước”. Chúng thần đã nhiều lần truyền buộc y quá khóa trước công đường, nhưng y trả lời: “Tôi giữ đạo từ nhỏ, tôi sẵn sáng thà chết chẳng thà bỏ đạo’. Vậy xin luận xử trảm quyết làm gương cho kẻ khác”.

Riêng ông Lý Mỹ, khi đến tỉnh Nam Ðịnh, cũng bị giam một trại với Cha Năm, và ông trùm Ðích. Ngoài ra các quan còn làm hết cách để dụ dỗ ông. Có khi dụ dỗ cùng lúc với Cha Năm và ông trùm Ðích, có khi thì dụ dỗ riêng một mình ông. Có lần quan bảo ông: “Mày là thằng giỏi giang lại trẻ tuổi, lý sự và coi sóc dân làng giỏi, ai cũng được nhờ, sao mày dại mà chẳng chịu quá khóa đi”? Ông Mỹ thưa lại: “Sao tôi lại dại? Khi chưa có tôi thì đã có dân, thế thì ai coi sóc dân lúc bấy giờ? Nhưng mà linh hồn tôi thì tôi phải coi giữ, cho nên tôi chẳng bỏ linh hồn tôi mà nghe lời quan đâu”. Quan lại bảo: “Sao mày chẳng thương vợ con? Con cái còn bé mọn yếu đuối, sao mày nỡ quên tình cha mà không thương con thế vậy? Dù chúng tao chỉ nghĩ tới hay trông thấy chúng nó thì cũng xót còn mày mê man làm sao mà chẳng quá khóa đi”? Ông Lý Mỹ thưa lại quan: “Tôi tính sao hả? Tôi có mê đâu! Vợ con là của Ðức Chúa Trời phó cho tôi, tôi coi sóc dạy dỗ khi có thể làm được. Mà bây giờ Ðức Chúa Trời định cho tôi ở trong tay quan lớn, thì tôi cũng phải vâng ý Người, cũng như vợ con tôi phải vâng ý tôi. Sao ông lại bảo lăng nhăng xàng xiên rằng tôi phải bỏ đạo, bỏ Ðức Chúa Trời là phải lẽ sao?”

Có một lần quan truyền cho lính kéo ông qua ảnh thánh giá. Quân lính lôi ông qua và reo lên: “Anh này quá khóa rồi”. Lúc đó ông Lý Mỹ kêu lên: “Bẩm lạy quan lớn, ông lớn kéo voi qua thập tự thì cũng được, nhưng mà chúng tôi nhất định không chịu bước qua Chúa chúng tôi thờ đâu”! Thấy ông trả lời khôn ngoan, các quan lại càng bực tức làm như chẳng lẽ mình lại thua một thằng tù. Các quan càng ra lệnh hành hạ ông hơn nữa. Có lần đến trước quan án, mà quan cứ giục ông phải bỏ đạo, nên ông nói chọc quan lớn: “Giả như giặc giã đến đây mà truyền cho chúng tôi đập đầu quan lớn để chúng tôi được sống, thì chúng tôi dám làm, nhưng Chúa chúng tôi thờ thì chúng tôi chẳng dám làm đâu”. Quan nghe vậy tức giận quá, liền cầm cái quạt ném vào mặt ông trúng vào con mắt ông, ông đau đớn quá ngã xuống sân.

Có lần khác quan thương tình khuyên bảo ông: “Mày còn trai tráng, và giỏi giang. Mày đã làm lý trưởng, nếu biết điều mày cũng có thể trở nên giàu sang, và được phong lưu sống lâu. Mày hãy quá khóa đi, thì được về nhà ở với vợ con. Nhiều kẻ khác đã quá khóa rồi, sao mày chẳng bắt chước chúng nó quá khóa, khi về nhà thì mày muốn giữ đạo thế nào cũng được”.

Ông Lý Mỹ thưa lại quan: “Bẩm lạy quan, tôi đã xem sách đạo và hiểu lẽ đạo, tôi đã biết đạo Ðức Chúa Trời là đạo thật cho nên tôi không thể bỏ được. Giả như có ai bảo quan lớn đập đầu Ðức Hoàng Ðế đã ban quyền cao chức trọng cho quan, ắt là quan lớn chẳng dám làm. Vậy tôi dám đạp ảnh Ðức Chúa Trời là Chúa tôi thờ làm sao được? Tôi chẳng tiếc sự sống hèn sống tạm ở đời này, vì thế nào tôi cũng phải chết. Nếu chẳng chết trước thì cũng chết sau. Còn về của cải chức quyền thì xin quan lớn biết rằng chẳng có chức quyền và của cải nào sánh bằng phúc trọng tôi sẽ được chết vì đạo. Tôi vốn thương vợ con tôi lắm, nhưng tôi sẵn lòng lìa bỏ họ vì tôi biết rằng Ðức Chúa Trời sẽ coi sóc chúng nó, và ngày sau sẽ cho tôi được gặp họ trên Thiên Ðàng. Quan lớn dạy rằng có nhiều người bỏ đạo. Vậy những thằng lính vì sợ giặc bỏ chạy cũng bỏ thầy mình thì có ra gì? Tại sao quan lớn lại dạy tôi bắt chước chúng nó?”

Các quan thấy khuyên nhủ ông bỏ đạo cũng vô ích, nên làm án tâu vua rằng: “Chúng tôi đã xét việc tên Mỹ là lý trưởng xã Vĩnh Trị, tên ấy xưng mình sinh bởi cha mẹ có đạo ở xã Vĩnh Trị. Năm nay 34 tuổi, và làm lý trưởng từ năm Ðức Hoàng Ðế thập lục niên. Tên ấy xưng mình có đạo, cam lòng chịu tội, chẳng dám phàn nàn. Chẳng những nó không bắt nộp đạo trưởng Mai Ngũ, lại còn giấu ông ta ở xã mình. Dù chúng tôi đã khuyên bảo cùng bắt ép quá khóa nhiều lần, nó cũng không chịu, nó cứ một mực chấp mê bất khẳng quá khóa, đó là bất tuân quốc pháp. Cho nên chúng tôi luận cho nó phải xử trảm quyết để làm gương cho kẻ khác sợ”. Vua chuẩn y án này.

Còn Cha Năm thì khi đến Nam Ðịnh phải giam vào ngục thất ngay. Hôm sau các quan điệu ngài ra tra khảo bắt bỏ đạo. Cha Năm khẳng khái trả lời quan: “Bẩm lạy quan lớn, tôi là đạo trưởng mà tôi dám bỏ đạo hay đạp ảnh tượng Chúa tôi làm sao được? Tôi vốn khuyên dạy người ta phải giữ đạo vững vàng và thà chết chẳng thà bỏ đạo, thì tôi phải giữ lời tôi khuyên dạy kẻ khác. Nếu chính kẻ làm đạo trưởng chẳng chịu chết vì đạo, thì còn ai chịu chết vì đạo nữa?”

– “Nếu ông cứ nói giọng này thì ông phải chết chẳng có lẽ nào sống được. Ta thấy ông là người lương thiện hẳn hoi nên ta muốn cho ông được sống. Ta khuyên ông nên vâng lời Ðức Hoàng Ðế mà bỏ đạo”.

“Bẩm lạy quan lớn, tôi đã bằng này tuổi đầu thì tôi đâu còn sợ chết, vì dù quan lớn có tha chẳng giết tôi, chẳng bao lâu tôi cũng chết vì bệnh. Nhưng nếu quan lớn giết tôi vì đạo tôi lại được nhiều ơn ích hơn là tôi chết vì bệnh. Vì nếu tôi chết vì đạo, tôi sẽ được chết vì Chúa tôi, đấng đã chịu chết cho tôi và tôi chóng được phần phúc Người đã hứa ban cho những kẻ giữ lòng trung cùng Người cho đến sau hết”.

Các quan thấy Cha Năm ăn nói cả quyết cứng cát và chỉ ao ước được chết vì đạo, thì biết rằng chẳng có thể nào dụ dỗ ngài bỏ đạo được, và dù có tra tấn ngài mặc lòng thì cũng vô ích mà thôi, cho nên chẳng những các quan chẳng tra khảo mà cũng chẳng đánh đập ngài. Hơn nữa các quan thấy ngài đã có tuổi, ăn nói lễ phép nên cũng thương không bắt ngài mang gông cùm ban ngày mà chỉ bắt mang ban đêm thôi. Các quan cũng làm ngơ để cho cha đi lại trong tù dễ dàng. Ở đây lại được dịp cho cha truyền giáo. Ðối với những người ngoại giáo thì cha yên ủi giảng dạy cho họ. Ðối với những người có đạo thì cha nâng đỡ và khuyên bảo họ mạnh dạn xưng đức tin. Trường hợp ông trùm Ðích, tuổi đã cao, và rất sợ hãi không biết có chịu nổi các thử thách và đòn đánh đến giây phút cuối cùng không, Cha Năm luôn khuyên bảo ông can đảm chịu đựng vì Chúa: “Khi được ơn Chúa giúp sức thì chẳng có hình khổ dữ tợn và đau đớn nào mà người ta chẳng chịu nổi. Như trường hợp Thánh Laurenso bị nướng trên giường sắt, ba trẻ đi trong lò lửa”. Nhờ cha mà ông trùm Ðích can đảm chịu chết vì Chúa cùng một lượt với cha và con rể của ông.

Giam cha được mấy ngày, quan lại đòi cha ra hầu tòa lần nữa, lần này các quan lại khuyên cha bỏ đạo, ngài từ chối không chịu bỏ đạo. Các quan lại hỏi ai đã truyền chức linh mục cho cha? Và các đạo trưởng Tây ở đâu? Cha Năm trả lời quan rằng ngài được Ðức Cha Giacôbê Leager truyền chức, Ðức Cha Giacôbê đã qua đời ở làng Kẻ Vĩnh bẩy tám năm trước đây. Còn về các đạo trưởng tây đang ở đâu, thì ngài không biết, vì từ khi triều đình cấm đạo, thì ai nấy tìm đàng mà trốn tránh, mỗi người một nơi không ai có thể biết được.

Sau nhiều ngày trong tù, các quan thấy Cha Năm không thay dạ đổi lòng, và biết không thể nào khuyên cha bỏ đạo, thì làm án xin xử tử cha. Án của cha như sau: “Tên Mai Ngũ là đạo trưởng đã theo tây dương đạo trưởng Giacôbê (Ðức Cha Leager) từ thuở nhỏ đến lớn, đã tin đạo Gia Tô cùng in đạo ấy vào lòng đến nỗi không còn hiểu được sự phải trái. Lại bởi tên ấy cứ một mực chấp mê cứng cổ bất khẳng quá khóa, bất tuân quốc pháp, thì chúng tôi đã luận cho nó phải trảm quyết cùng bêu đầu ba ngày để cho ai nấy phải sợ và đừng bắt chước nó nữa”.

Cha Năm biết các quan làm sớ về triều rồi thì chắc chẳng bao lâu nữa mình sẽ phải xử, cho nên dọn mình chết rất kỹ càng. Cha xưng tội rất nhiều lần. Trong hơn một tháng, Cha Năm, ông Trùm Antôn Ðích và ông Lý Mỹ bị giam chung, cả ba đọc kinh tối sớm với nhau lớn tiếng mà chẳng ai nói chẳng ai cấm. Cũng vào thời ấy có hai ba cha thuộc địa phận Ðông cũng bị giam, các cha xưng tội với nhau.

Rõ rệt Thầy chí thánh không bỏ rơi các tông đồ và những người tin theo các tông đồ trong những cơn bách hại: “Khi bị nộp vào tay họ, chúng con đừng lo phải nói thế nào và nói gì, lúc đó sẽ dạy chúng con những điều phải nói. Vì thực ra không phải chúng con nói, nhưng là Thần Linh của Chúa Cha nói trong các con” (Mat 10:19-20). Các Quan nghe ba thánh nhất định không chối đạo và sẵn sàng chịu chết để tuyên xưng đức tin thì cho là dại dột. Các ông có biết đâu các ngài đã có mãnh lực, khôn ngoan từ Thiên Chúa. Nhờ vậy các ngài mới có thể tuyên xưng mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa, chính là tình yêu được diễn tả trong cuộc tử nạn trên thập giá để cứu chuộc trần gian quả là mầu nhiệm bao la vượt hẳn sự suy luận loài người. “Là vì cái điên rồ nơi Thiên Chúa còn khôn ngoan hơn cả sự khôn ngoan người đời, và cái yếu hèn nơi Thiên Chúa còn mạnh hơn cả sức lực phàm nhân” (I Cor 1:25).

5. Quyết định của vua quan tuyên bố xử trảm các Ngài cũng nói rõ rằng các Ngài phải chết vì đã tin theo đạo Gia Tô. Khi đến pháp trường, Cha Năm quỳ xuống cái chiếu mà ông Lý Thi con ông trùm Ðích đã trải sẵn. Ba đấng cầu nguyện một lúc. Sau đó quan giám sát dịch loa, truyền mọi người yên lặng. Quan truyền lịch: “Các người hãy đến để xử những tên theo ông Giêsu. Nếu ai còn dám theo tôn giáo này, thì hãy biết rằng lệnh vua sẽ xử trảm như những tên can phạm này”. Sau đó một tên lính cầm thẻ đề tên Cha Năm mà rao cho mọi người nghe: “Tên Mai Ngũ này là đạo trưởng, quê Ðông Biên, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa, đã theo đạo Gia Tô từ thuở còn bé. Lại bất khẳng bỏ đạo thì đức Hoàng Ðế truyền cho nó phải trảm quyết và bêu đầu ba ngày cho người ta xem thấy mà sợ cùng đừng bắt chước nó”.

Sau khi đọc bản án từng người, quan truyền lệnh xử tử tù nhân. Ông Lý Mỹ xin quan xử Cha Năm và ông trùm Ðích trước. Quan ưng thuận lời xin của ông. Quan truyền xử Cha Năm trước rồi ông trùm Ðích sau. Lý hình chém một nhát thì đứt đầu ông.

Sau khi xử hai đấng, tên lý hình đòi ông Lý Mỹ năm quan tiền thì sẽ xử một nhát mát mẻ. Nhưng ông bảo rằng: “Năm quan tiền để làm phúc cho kẻ khó, chẳng có tiền cho chú mình đâu, muốn băm vằm thế nào thì mặc”. Lý hình bực tức, chém một nhát trượt không đúng, chỉ đứt một miếng thịt nơi cằm, ông Lý Mỹ ngã xuống. Mãi đến nhát thứ năm mới đứt đầu.

Các ngài đang thực hiện lời thánh Phaolô Tông Đồ đã viết: “Chúng tôi rao giảng Chúa Kitô tử nạn thập giá: Đức Kitô – trong mầu nhiệm Phục Sinh – đã minh chứng ngài là mãnh lực của Thiên Chúa, là khôn ngoan của Thiên Chúa” (I Cor 1: 23-24).

6. Các Ngài không chống đối, phản kháng, nhưng đã chấp nhận án chết vì đạo một cách vui vẻ. Ngày 12.08.1838, trên đường đi ra pháp trường Bảy Mẫu, ba thánh ca hát vui vẻ lắm. Dân chúng kéo đi xem rất đông. Hai ông quan giám sát cưỡi hai voi và hơn hai trăm quân lính kéo ra lối cửa Bắc đi trước, Cha Năm, ông trùm Ðích, ông Lý Mỹ mang gông mang xiềng đi sau. Lại có ba tên lính mang thẻ đã đề tên ba đấng đi trước các ngài. Rồi đến Cha Năm đi trước, ông trùm Ðích và ông Lý Mỹ theo sau. Thỉnh thoảng Cha Năm bảo người ta: “Này đạo trưởng đây, đến mà xem”. Gặp những người quen, ngài chào từ giã vui vẻ: “Anh em nghỉ lại, tôi về quê trước, nhưng sau này chúng ta sẽ gặp nhau”.

Khi đi chịu chết ông Lý Mỹ vui mừng, nhanh chân nhẹ bước đi trước, vừa đi vừa chào hỏi mọi người. Miệng ông hát kinh tạ ơn Ðức Chúa Trời, tay ông gõ nhịp cùng rung xiềng xích tỏ ra rất vui vẻ. Kẻ ngoại đạo thấy ông mặt mũi vui tươi hớn hở thì khen ông là người anh hùng can trường. Trên đường đi ông gặp ông cả Thâu là anh em họ, con chú bác. Ông Thâu nói với ông Mỹ: “Anh Lý hãy vững vàng nhé”. Ông Mỹ thưa lại: “Anh hãy yên trí tôi chẳng có sợ đâu”.

KẾT LUẬN

Cuộc tử đạo của 3 thánh: Thánh Linh Mục Năm, Thánh Trùm Đích và Thánh Lý Mỹ, dẫu ở những hoàn cảnh cá biệt riêng tư, đều có những nét chính yếu chung trong việc tử đạo mà ba vị cũng như tất cả 117 vị tử đạo khác đã lãnh nhận tại Việt Nam.

Tất cả các ngài đã bị theo dõi, bị tố cáo và bị bắt, bị nộp cho quan, vì là công giáo. Các ngài đã bị đánh đập giữa hội đường, bị điệu ra trước tòa quan quyền vì tin vào Chúa Kitô. Bi tra khảo, có lúc một vài vị lo sợ, muốn sờn lòng, khi nghĩ đến những hình khổ sẽ phải chịu. Nhưng rút cục, các đấng đều đã can đảm trả lời xưng đức tin một cách công khai và rõ rệt, để làm chứng rằng đạo Thiên Chúa là đạo thật. Quyết định của vua quan tuyên bố xử các thánh cũng nói rõ rằng các ngài phải chết vì đã tin theo đạo Gia Tô. Các ngài không chống đối, phản kháng, nhưng đã chấp nhận án chết vì đạo một cách vui vẻ.

Trở về Lộ Đức, “Mừng 25 năm tuyên phong các thánh Tử Đạo Việt Nam 1988-2013 – Sống Đức Tin theo gương tiền nhân”, ôn lại lịch sử tử đạo của các thánh tiền nhân tử đạo Việt Nam, người tín hữu nào mà chẳng biết trân trọng hơn gia sản đức tin mà các bậc tiền nhân đã để lại. Biết đâu, nhờ đó, người tín hữu sẽ được các thánh tiền nhân phù trợ, được can đảm và sáng kiến hơn, hầu giữ vững và làm chứng cho Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh” [3]. “Chớ gì ngày lễ tạ ơn dịp kỷ niệm 25 năm các Tổ tiên Tử đạo của chúng ta được Giáo Hội tôn phong lên bậc Hiển Thánh nhắc nhớ mọi người chúng ta quyết noi gương các Ngài, để sống xứng đáng là những người “con thảo của Cha trên trời, là chứng nhân anh dũng của Đức Kitô, là thành phần trung kiên của Hội Thánh” (Kinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam) [4].

Ngắm nhìn tấm gương kiên trung và oai hùng của các thánh Tử Đạo Việt Nam, lòng người tín hữu hôm nay không khỏi bồi hồi cảm kích, mà thì thầm: “Thật là một cuộc xưng đạo và tử đạo bi hùng và vinh quang”!

Đức Gioan Phaolô II đã nhận ra và đã chia sẻ: “Trước mặt chúng ta hôm nay, các vị Tử Đạo Việt Nam đóng vai trò những người đi gặt lúa cho Chúa, như đã ghi trong Thánh Vịnh:“Ai gieo trong lệ sầu, sẽ gặt trong hân hoan. Lúc ra đi phải khóc than, vì công vất vả gieo hạt. Nhưng khi trở về, lòng thênh thanh phấn khởi, vì sẽ ôm nặng nhiều bông lúa” (Ca Vịnh 125, 126: 5-6). Lời duyền diệu trên đây nói lên ý nghĩa cuộc chứng nhân lịch sử nơi các vị Tử Đạo trong Giáo Hội Việt Nam. Trong vũng nước mắt của họ đã gieo xuống hạt giống ân sủng, để rồi trở thành vô số bông hoa đức Tin: “Hạt giống gieo xuống mà không mục đi thì chỉ trơ trọi một mình, nhưng nếu mục đi sẽ sinh nhiều bông lúa” (Gioan 12:24). Rồi lặp lại lời thánh Phaolô, Đức Giáo Hoàng đã khẳng định: “Chúng ta rao giảng Chúa Giêsu tử nạn thập giá” (I Cor 1:23).

Paris, ngày 27 tháng 07 năm 2013
Trần Văn Cảnh

Ghi chú

(1). ĐTC GIOAN PHAOLÔ II: Bài giảng trong ngày tuyên phong Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 19.6.1988, in

http://www.xuanha.net/TruyencacthanhTDVN-lephongthanh/5phongthanh-baigiangDTC.htm

(2). Vũ Thành: Dòng máu anh hùng, tập 2; Franklin: Phong trào Thanh Sinh Công tại Hoa Kỳ; 1987; tr. 171-203.

(3). Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: Thư mục vụ Năm Đức Tin của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, ngày 11 tháng 10 năm 2012, số 7; Nguồn:: http://www.hdgmvietnam.org/thu-muc-vu-nam-duc-tin-cua-hoi-dong-giam-muc-viet-nam/4314.116.3.aspx

(4). TGM Phêrô Nguyễn văn Nhơn, Thơ mục vụ nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày tôn phong 117 Hiển Thánh Tử đạo Việt Nam; 01/06/2013; Nguồn:

http://www.tonggiaophanhanoi.org/tin-tuc/tin-giao-hoi-viet-nam/5656-thu-muc-vu-nhan-dip-ky-niem-25-nam-ngay-ton-phong-117-hien-thanh-tu-dao-viet-nam


Bài 4. GƯƠNG SỐNG VÀ ĐỐT SÁNG VĂN HÓA VIỆT NAM CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

‘Văn hoá là một hệ thống tổ hợp biểu lộ tác phong, bao gồm thiết kế nhận thức ,hành động tổ chức và tất cả những ứng xử cải tiến của tập thể con người sống thành xã hội. Cái tổ hợp này biến chuyển theo thời gian và môi trường mà một trong những tính chất độc đáo của nó là có hệ thống hữu cơ’ [1]. Trong định nghĩa này, hai tính chất căn bản của văn hoá đã được xác định, đó là ‘biến chuyển theo thời gian và môi trường’‘có hệ thống hữu cơ’.

Văn hóa Việt Nam có gốc rễ sâu xa, rộng lớn và vững chắc, trải dài qua lịch sử trên bốn ngàn năm văn hiến. Sử gia Trần Trọng Kim [2] chia lịch sử Việt Nam làm năm thời đại: Thượng cổ (từ năm 2879 đến 111 trươc Tây lịch), Bắc thuộc (từ năm 111 trươc Tây lịch đến năm 939), Tự chủ (từ năm 939 đến 1528), Nam Bắc phân tranh (từ năm 1528 đến 1802), và Cận kim (từ năm 1802 đến 1945). Dưới cái nhìn về gốc rễ văn hoá Việt Nam, ba giai đoạn quan trọng và quyết định hơn cả là: Giai đoạn thượng cổ lập quốc tạo ra cái bản tính Âu-Lạc; Giai đoạn bắc thuộc 1000 năm lệ thuộc Tầu, chịu ảnh hưởng sâu xa cái văn minh Tam Giáo, và Giai đoạn cận kim, đặc biệt là từ 1533 đến ngày nay, chịu ảnh hưởng Âu Mỹ và Công Giáo. Như vậy văn hoá Việt Nam có gốc rễ rất sâu xa: từ rễ cái Âu Lạc Bách Việt, xuyên qua rễ cả Tam Giáo và ăn sâu vào rễ cả Văn Minh Âu Mỹ Công giáo.

Các vua quan Việt Nam, kể cả các vua quan nhà Nguyễn, đã tiếp cận với văn minh Công Giáo Âu Mỹ, nhưng vẫn “cứ một mực theo cổ, chứ không chịu tùy thời mà biến hóa phong trục” [3]. Cho nên cứ nhất nhất độc tôn Nho Giáo, chống lại những cái gì mới. Tiếp cận với Đạo Công Giáo, từ thế kỷ XVI, thế mà 3 thế kỷ sau, thế kỷ XIX, vẫn còn cấm đạo một cách tàn nhẫn và thảm thương, vẫn còn không biết rõ về đạo này, vẫn còn những hiểu lầm rằng “Người công giáo chạy theo văn hóa ngoại quốc mà bỏ quên văn hóa Việt Nam”.

Có thật như vậy không? Chúng ta hãy điểm lại những nét chính yếu của Văn hóa Việt Nam và tìm xem cách ứng xử chung của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là như thế nào. Rồi sau đó, một cách cụ thể, chúng ta hãy quan sát và phân tích vài ba trường hợp cụ thể, xem các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã sống văn hóa Luân Thường Việt Nam ra sao.

A. Trước nhất chúng ta hãy nêu ra một vài nhận định tổng quát về văn hóa việt nam và về cách ứng xử chung của các vị tử đạo.

1. Văn hóa Việt Nam, cho đến thế kỷ XVI, bao gồm bốn tầng: Âu Lạc, Ấn Phật, Lão Trang và Khổng Mạnh. Hệ tư tưởng Âu Lạc với truyền thuyết gia đình Âu Lạc, đã đặc biệt truyền lại cho con cháu bốn điều: huynh đệ tương trợ, có đức kính nhường, có trí thuận hòa và có dũng giữ nước. Hệ tư tưởng Ấn Phật với cái nhìn hư vô về thế giới; với tứ diệu đế: khổ, dục, diệt, đạo, đã đưa cho người việt nam cách cư xử siêu thoát với thế tục, xả kỷ với mình, để từ bi với chúng sinh. Hệ tư tưởng Lão Trang trình bầy cái gốc Đạo là nguyên ủy của sự tạo hóa. Vạn vật đều bởi Đạo mà sinh ra. Văy, sửa mình và trị nước cần phải noi theo Đạo, phải điềm tĩnh, phải vô vi, phải tự nhiên, không dùng vũ lực. Tính hiếu hòa, tính an nhiên của người Việt Nam phải chăng bắt nguồn từ Đạo giáo? Còn hệ tư tưởng Khổng Mạnh, thì cả nền luân lý xã hội của ta đều lấy sức từ đấy và qua đấy. Trong cách sống của người Việt Nam, ngũ luân: Cha con có tình thân (Phụ tử hữu Thân), Vua tôi có nghĩa (Quân thần hữu Nghĩa), Chồng vợ có sự phân biệt (Phu phụ hữu Biệt), người lớn người nhỏ (anh em) có thứ tự (Trưởng ấu hữu Tự), bằng hữu có lòng tin (Bằng hữu hữu Tín).”[30]; Ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín, vẫn được dùng làm nguyên tắc cư xử.

2. Nhưng các vua quan Việt Nam, bị ảnh hưởng Hán nho, muốn bảo vệ nhà vua, đã độc tôn Khổng giáo và rứt ba cái trong ngũ luân ra mà lập thành thuyết tam cương. Tam cương tức là ba giềng mối chính trong xã hội loài người. Tam Cương gồm có Quân thần (Vua và các quan), Phụ Tử (Cha và Con), Phu Phụ (Chồng và Vợ). Người ta thường giải thích rằng khi đề cao Tam Cương (cùng với Ngũ Thường), Nho giáo đã chủ trương người làm Vua, làm Cha và làm Chồng có quyền hành tuyệt đối đối với bầy tôi, con hay vợ. Thứ tự đã đặt ngược lại: thay vì Cha con làm đầu, thì Tam cương đã đổi Quân thần làm đầu. Thuyết tam cương thì rõ là vua áp chế tôi, cha áp chế con, chồng áp chế vợ, mà không còn cái tinh thần bình đẳng của ngũ luân nữa. Trong ngũ luân, thì “Dân vi quý, quân vi khinh” chứ không đề cao vai trò của vua quan. Ngược lại, theo tam cương thì vua khiến bầy tôi chết, không chết không trung (quân xử thần tử, thần bất tử bất trung).

3. Trên bình diện tổng quát, trong tất cả 117 thánh, không một vị thánh tử đạo nào đã làm chính trị, hiểu theo nghĩa lập phe đảng chống lại triều đình. Ngay cả linh mục Giuse Marchand Du, bị bắt ngày 08.09.1835, người đã bị tình nghi là theo giặc Lê Văn Khôi, cũng chỉ là bị cáo gian. Thực ra ngài đã bị Lê Văn Khôi bắt vào thành, cưỡng bức phải biên thơ cho cầu cứu. Nhưng ngài đã không làm. Rút cục, ngài bị xử bách tùng xẻo vì đã không bỏ đạo.

Chúng ta hãy nghe những cuộc tra hỏi về cha Marchand Du. Ngày 15-10, quân lính và tù binh về tới kinh đô trong tiếng reo hò chiến thắng. Các tù nhân bị nhốt trong cũi, xếp một hàng dài ở trại Võ Lâm. Ngày hôm sau các quan tòa tam pháp tra hỏi Cha Du: – “Ngươi có phải là Phú Hoài Nhân (tên vua đặt cho Ðức Cha Taberd) không?

– “Không”.

– “Ông ấy bây giờ ở đâu?”

– “Tôi không biết”.

– “Ngươi có biết ông ấy không?”

– “Tôi biết lắm nhưng đã lâu không gặp”.

– “Ngươi ở trong nước được bao lâu?”

– “Năm năm”.

– “Ngươi ở những đâu?”

– “Trước hết tôi ở Lái Thiêu, sau này tôi ở nay đây mai đó trong nhà nhiều người mà nay họ chết cả rồi”.

– “Ngươi có giúp Khôi làm giặc không?”

– “Không, ông Khôi cho quân đi bắt tôi đem về Sài Gòn. Việc chiến tranh tôi không biết gì, chỉ làm một việc là cầu nguyện cùng Chúa và làm lễ”.

– “Có phải ngươi viết thơ xin quân Xiêm và giáo dân Ðồng Nai đến giúp ngụy nữa không?”

– “Ông Khôi có bắt tôi viết thơ song tôi không chịu, và nói cho ông ta rằng đạo cấm làm chuyện chính trị. Tôi cũng nói thà chịu chết chứ không làm như thế được. Dù vậy ông Khôi còn đem mấy thơ đến bắt tôi ký tên vào nhưng tôi đã lấy mà đốt đi trước mặt ông Khôi”.

Ngày hôm sau nữa quan lại hỏi các tướng nghịch. Những người này sợ tội nên đã đổ lỗi hoàn toàn cho Khôi đã chết và cho Cha Du. Họ bịa đặt ra là có đức cha xúi làm loạn để đưa An Hòa, là con của Ðông Cung (hoàng tử Cảnh) lên ngôi. Mấy tướng nghịch cũng đổ tội cho công chúa Kiên An là em của Minh Mệnh xúi dục khởi ngụy, và cho Thái Công Triều, trước theo giặc nhưng đã phản Khôi về hàng triều đình.

Ngày 17-10, quan cho đòi Cha Du đến công đường có bày sẵn các hình cụ và bắt nhận lời như bọn tướng nghịch đã khai. Cha Du cực lực chối bỏ. Cha bị tra tấn thật dã man: hai đứa kềm hai bên, một đứa khác vén quần lên cao để lộ hai bắp vế, một tên khác lấy kìm nung đỏ kẹp vào đùi bên trái. Mọi người nghe tiếng kêu xèo xèo và mùi khét phải quay mặt ra phía ngoài. Lý hình giữ nguyên kẹp cho đến khi nguội hẳn. Cha Du thét lên và ngất xỉu. Cách chừng nửa giờ sau quan lại hỏi nữa và bị kẹp đùi bên phải, thảm cảnh man rợ tái diễn làm Cha Du ngã xuống đất lần thứ hai. Cha vẫn một mực không chịu nhận tội làm giặc mà các quan ép buộc. Quan nói: “Thôi, tên này lớn gan lắm, để thủng thẳng bữa khác sẽ hay. Hãy đem về cũi giam lại”.

Cha còn bị tra hỏi nhiều lần khác song không bị kìm kẹp. Ðứa con lên 7 tuổi của Khôi cũng bị tra hỏi, nó cứ thật mà khai là Cha Du không có can dự gì vào chiến tranh, cũng chẳng làm những điều ông Khôi ép buộc. Không ép buộc được Cha Du nhận tội, các quan bắt cha phải bỏ đạo. Quan nói: “Ngươi chối hoài là không làm gì theo giặc thì thôi, nhưng ngươi không thể chối đã đến đây giảng đạo mặc dù ngươi biết có lệnh vua cấm. Tội này cũng đáng hình khổ nặng lắm. Nhưng nếu ngươi đành lòng bỏ đạo bước qua thập giá thì ta tha cho mọi hình phạt”.

– “Quan lớn rộng lượng như thế thì xin cám ơn, nhưng xuất giáo thì không bao giờ. Tôi thà chịu mọi hình phạt quái gở chứ chẳng thà chối Chúa như vậy”.

Các quan mặc sức chế nhạo và vu khống cho đạo như là làm thuốc mê, gian dâm với đàn bà… Cha cực lực chối cãi: “Cái việc ấy chỉ là do những người ghét đạo bày đặt ra. Nếu đạo có như vậy thì còn ai dám theo?”

Các quan làm tờ trình như sau: “Năm Minh Mệnh thứ 15, tháng 9, ngày 13, chúng tôi, các quan tòa tam pháp theo lệnh hoàng thượng như sau. Tháng 5, năm vừa qua, chúng tôi xét xử vụ khởi loạn của Khôi ở thành Phiên An, trong số đồng phạm có linh mục Âu Châu tên là Du, cũng gọi là Marchand, đã theo tầu Trung Hoa đến nước năm Minh Mệnh thứ 12 tại cửa Cần Giờ, và trốn tránh tại Vĩnh Long và Biên Hòa để lén lút giảng đạo Gia Tô. Từ đó theo Khôi khởi loạn, liên lạc với kẻ thù của chúng ta là nước Xiêm và tập họp người Công Giáo trong thành…, đã bị bắt và dẫn giải về kinh đô giao cho chúng tôi xét xử. Sau đó chúng tôi đã mở cuộc thẩm vấn và thấy các câu trả lời của tội nhân vi phạm luật lệ quốc gia một cách trầm trọng. Chính tội nhân đã nhận tội lỗi. Vì thế tên đạo trưởng Âu Châu Du hay Marchand có hai tội không những không chịu đạp ảnh mà thực sự có dính líu đến nghịch tặc. Chúng tôi luận phải xử bá đao và phải bêu đầu. Sau khi nhận được lệnh vua, chúng tôi sai hai quan Lang Trung và Chủ cùng với 40 lính thuộc trấn phủ dẫn tù nhân Âu Châu Marchand đến nơi gọi là Trương Ðông, làng Dương Xuân, huyện Hương Toà để hành quyết và chặt đầu bêu như đã chỉ thị” [31].

4. Ngược lại, tất cả các thánh tử đạo đều rất tôn trọng vua quan và hết lòng vì quê hương. Thánh Lý Mỹ khi bị thẩm vấn về tội chứa chấp đạo trưởng là cha Năm trong làng, mà không báo quan, đã thành thật nhận lỗi và trả lời trong tinh thần rất tôn trọng quan Trịnh Quang Khanh rằng: “Bẩm lậy quan lớn, nếu quan lớn thương thì chúng tôi nhờ hồng phúc quan lớn, bằng quan lớn bắt tội thì chúng tôi cam chịu”.

Cha Thánh Phaolô Phạm Khắc Khoan, bị bắt ngày 24-8-1837, xử trảm ngày 28-4-1840, còn nói rõ hơn về lòng tôn trọng vua quan và phép nước. Ngày 28-4- 1840, trên đường ra pháp trường, tới thành phố gặp đám đông, Cha Khoan dừng lại nói với đám đông: “Anh chị em đừng thương tiếc cho số phận của chúng tôi, chúng tôi vô tội, chúng tôi không làm gì chống lại vua hay luật lệ quốc gia. Lỗi duy nhất mà họ trách là chúng tôi là người Kitô. Chúng tôi chết vì không chịu từ bỏ đạo Chúa Giêsu là đạo chân thật. Với quý ông quý bà theo chúng tôi và nhìn máu chúng tôi tuôn đổ hãy suy nghĩ đến sự cứu rỗi, hãy trở về nhà bằng an”. Hai quan lớn cỡi hai con voi, hai quan nhỏ cỡi ngựa và đông binh sĩ làm thành vòng tròn để ba vị tử đạo ở giữa rồi tiến về nơi xử là Lò Gạch tại Ninh Bình. Tới nơi, Cha Khoan lại lên tiếng nói: “Chúng ta hãy thờ lạy tôn kính yêu mến Thiên Chúa, Chủ Tể trời đất, vì yêu Người mà chúng tôi phải chết. Chúng tôi cầu chúc đức vua được giầu sang phú quý cai trị muôn năm và chớ gì ngài ngưng cuộc bách hại đạo trời là đạo duy nhất mang lại hạnh phúc [32].”

Cha Tôma Khuông, bị bắt ngày 29-12-1859 và bị chém ngày 30-1-1860 tại Hưng Yên, đã trả lời một câu hỏi của quan và nêu rõ nhiệm vụ trung thành với vua quan rằng: “Ðạo chúng tôi truyền buộc các tín hữu phải giữ trọn lề luật trong đạo đồng thời phải trung thành với vua, hiếu thảo với cha mẹ và phải cầu nguyện luôn cùng Thiên Chúa cho quốc gia được hưng thịnh. Nếu người nào lỗi phạm thì mắc tội trọng. Chắc chắn không người tín hữu nào dám xin người Châu Âu đến gây việc chiến tranh [33] “.

B. Gương của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và cụ thể của Cha Năm, Ông Trùm Đích và Ông Lý Mỹ, có cuộc sống khôn ngoan, ngay thẳng, nhân nghĩa, trung tín, đáng làm gương cho mọi người Việt Nam về tư cách sống. Nếu tất cả mọi người Việt Nam đều khôn ngoan, ngay thẳng, nhân nghĩa và trung tín như các ngài, thì chẳng những chắc chắn thời các ngài đã chẳng loạn lạc như lịch sử đã kể lại; mà còn có thể là đã chẳng có lệnh cấm đạo nữa, đã chẳng có việc các vua quan đã giết hại đến 130.000 người, chỉ vì họ khác tôn giáo với mình. Tư cách sống ấy, nét văn hóa thực tế ấy đã nổi bật ở những nét nào? Các ngài đã đốt sáng văn hóa sống cụ thể ở những điểm nào?

1. Gương lãnh đạo trung tín như người cha tinh thần của cha Năm, giáo sĩ đạo trưởng. Hai tài liệu Công Đồng Vatican II đã nói rõ về vai trò của linh mục đạo trưởng. Trong Sắc lệnh về Chức linh mục Công đồng nói như sau: “Bởi vậy, trong chức vụ và đời sống của mình, các linh mục phải nhằm mục đích tìm kiếm vinh danh Thiên Chúa Cha trong Chúa Kitô… Các ngài không thể là thừa tác viên của Chúa Kitô nếu không là chứng nhân và là người ban phát một đời sống khác đời sống thế tục”. Hiến chế Ánh sáng muôn dân, đặt tác vụ linh mục tư tế trong bối cảnh chung của sứ vụ của Giáo Hội được coi như là Dân Thiên Chúa, là dân đã nhận được ơn tham dự vào ba sứ vụ của Chúa Kitô: ngôn sứ, tư tế và mục tử. Hiến chế nói như sau: “Nhờ bí tích truyền chức thánh, linh mục được thánh hiến theo hình ảnh Chúa Kitô, thầy cả thượng phẩm vĩnh viễn (x.Dt 5, 1-10); 7, 24; 9, 11-28), để rao giảng Phúc Âm, chăn dắt tín hữu và cử hành việc phụng tự Thiên Chúa với tư cách tư tế đích thực của Tân Ước”. Cha Năm có đã thực hiện được những trách nhiệm của một linh mục, đồng thời giữ gìn được những nét đặc trung của Văn hóa Việt Nam không?

Cha Năm nhân ái với con người, trung tín với Thiên Chúa. Cha hiền hòa vui vẻ, chăm lo kinh hạt, ước ao được phúc tử đạo, chứng nhân cho đời sống siêu nhiên. Cha thường kể truyện giặc giã đời Tây Sơn cho người ta nghe, nhiều người quý mến ngài. Ngoài tính vui vẻ, Cha Năm còn có tính khiêm nhường, đạo đức, cứ giờ cứ mực mà ra đọc kinh. Khi ẩn ở nhà ông trùm Tôn, ngài đọc kinh cả ngày. Có lần người ta đến hầu thì phải đợi lâu mới vào được, vì ngài còn đang bận đọc kinh lần hạt. Ngài có đức vâng lời, không bao giờ phàn nàn bề trên điều gì. Ngài cũng có lòng thương người nghèo khó, khi ăn cơm ngài thường để dành cho kẻ khó một ít. Lúc chẳng có gì để cho kẻ khó, thì ngài cho thuốc viên. Ðối với vấn đề tử đạo, Cha Năm rất ao ước. Lần kia, cha được tin ông kia bỏ đạo thì buồn bã phàn nàn rằng: “Ôi ông ấy dại dột dường nào! Ông ấy được dịp tốt đến mà không chịu nhờ. Ðức Chúa Trời đã đem ông ấy vào đàng ngay nẻo chính để lên Thiên Ðàng, mà ông ấy không chịu đi. Giả như Chúa thương ban phúc ấy cho tôi, thì tôi chẳng dám từ chối. Giả như Chúa có liệu dịp tốt lành cho tôi như thế, thì tôi chẳng dám bỏ qua”.

Cha Năm can đảm vui vẻ đón nhận tử đạo, đã đặc biệt muốn chăn dắt tín hữu, rao giảng Phúc Âm và tìm kiếm vinh danh Thiên Chúa. Khi đến Nam Ðịnh thì Cha Năm phải giam vào ngục thất ngay. Hôm sau các quan điệu ngài ra tra khảo bắt bỏ đạo. Cha Năm khẳng khái trả lời quan: “Bẩm lạy quan lớn, tôi là đạo trưởng mà tôi dám bỏ đạo hay đạp ảnh tượng Chúa tôi làm sao được? Tôi vốn khuyên dạy người ta phải giữ đạo vững vàng và thà chết chẳng thà bỏ đạo, thì tôi phải giữ lời tôi khuyên dạy kẻ khác. Nếu chính kẻ làm đạo trưởng chẳng chịu chết vì đạo, thì còn ai chịu chết vì đạo nữa?”

– “Nếu ông cứ nói giọng này thì ông phải chết chẳng có lẽ nào sống được. Ta thấy ông là người lương thiện hẳn hoi nên ta muốn cho ông được sống. Ta khuyên ông nên vâng lời Ðức Hoàng Ðế mà bỏ đạo”.

– “Bẩm lạy quan lớn, tôi đã bằng này tuổi đầu thì tôi đâu còn sợ chết, vì dù quan lớn có tha chẳng giết tôi, chẳng bao lâu tôi cũng chết vì bệnh. Nhưng nếu quan lớn giết tôi vì đạo tôi lại được nhiều ơn ích hơn là tôi chết vì bệnh. Vì nếu tôi chết vì đạo, tôi sẽ được chết vì Chúa tôi, đấng đã chịu chết cho tôi và tôi chóng được phần phúc Người đã hứa ban cho những kẻ giữ lòng trung cùng Người cho đến sau hết”.

Cha Năm được các quan thương mến. Các quan thấy Cha Năm ăn nói cả quyết cứng cát và chỉ ao ước được chết vì đạo, thì biết rằng chẳng có thể nào dụ dỗ ngài bỏ đạo được, và dù có tra tấn ngài mặc lòng thì cũng vô ích mà thôi, cho nên chẳng những các quan chẳng tra khảo mà cũng chẳng đánh đập ngài. Hơn nữa các quan thấy ngài đã có tuổi, ăn nói lễ phép nên cũng thương không bắt ngài mang gông cùm ban ngày mà chỉ bắt mang ban đêm thôi. Các quan cũng làm ngơ để cho cha đi lại trong tù dễ dàng.

Thực ra, gương công chính của các linh mục công giáo, làm nhiều quan chức đã không đồng ý bắt đạo, và đã tìm nhiều cách cứu giúp, kết nghĩa, trọng đãi, tránh xử. Cha Lê Bảo Tịnh đã được quan tổng đốc Tân cho người báo tin trước ngày các quan định vây bắt Vĩnh Trị. Cha Gioan Đạt, được viên viên cai ngục xin kết nghĩa huynh đệ: “Tôi thấy cụ khôn ngoan, đạo đức, thì muốn kết nghĩa huynh đệ lắm, ngặt vì cụ sắp bị án tử rồi. Tôi xin hứa biếu cụ một cổ quan tài để biểu lộ lòng tôi quí cụ.” Cha Trần An Dũng Lạc được quan huyện Bình Lục hậu đãi. Ông cho dọn cơm bằng mâm bát của mình, để ông ngồi ăn một mâm, cha Lạc một mâm, rồi nói: “Ông ngồi một mình một mam thì cũng là quan. Ông là quan bên đạo, tôi quan bên đời”, và cho lệnh cởi trói với lời thanh minh rằng: “Tôi không cò ý bắt ông, nhưng kẻ tố giác cứ lên cáo mãi, nên tôi phải đi”. Cha Đạt được dân chúng kính phục: Ngày 12-9 Âm Lịch, hội đồng cố vấn họp lại và ấn định ngày 20 sẽ thi hành án trảm quyết cha Đạt, đồng thời ra lệnh cho quan cũng như dân thuộc 12 huyện trong tỉnh Thanh Hoá kê khai những người Công Giáo, để bắt họ đến dự cuộc hành quyết của ngài. Từ ngày đó lương dân cũng như giáo dân Công Giáo bùi ngùi đến viếng thăm ngài. Họ nói với nhau: “Linh mục này hãy còn thanh xuân, gương mặt hiền hòa trấn tĩnh, can đảm trổi hơn cả những quan tướng thời danh trong triều, thật xứng đáng là thủ lãnh dân Công Giáo”. Đặc biệt chuyện linh mục Vũ Bá Loan, niên trưởng 84 tuổi, được mọi người kính trọng gọi bằng “cụ”, ngài không bị đòn đánh, và trong ngày xử, mười lý hình bỏ đạo chạy trốn, đến người thứ mười một, đã lịch sự xin phép: “Việc vua truyền cháu phải làm, xin cụ xá lỗi cho. Cháu sẽ cố giúp cụ chết êm ái. Khi về trời cụ nhớ đến cháu nhé”.

Kết luận, qua những hành xử của mình, cha Năm đã sống và thực hiện một cách trọn hảo văn hóa ngũ luân, ngũ thường. Đồng thời ngài đã làm tròn nhiệm vụ của một linh mục, giáo sĩ đạo trưởng. Ngài đáng làm gương sáng cho mọi người dân Việt biết hòa nhã tôn kính, thương yêu nhau; và cho các linh mục việt nam hôm nay biết sống khó nghèo, khiết tịnh và vâng lời để làm chứng cho Đức Tin, rao giảng Tin Mừng và tìm kiếm Vinh Danh Chúa.

2. Gương đức độ hiền lành dậy con của Ông Trùm Đích, Gia Trưởng. Đọc lại tiểu sử thánh Trùm Ích, nét nổi nhất hiện ra trong tác phong của ngài là sụ tổng hợp hoàn hảo giữa văn hóa ngũ luân, ngũ thường việt nam và đời sống nhân đức công giáo. Ngài đã thực hiện cả năm mối nhân luân: có tình thân với con cháu, có nghĩa với vua quan, có đầy đủ trách nhiệm bên ngoài để vợ lo bên trong, có kính nhường với anh em, có chữ tín trong giao thiệp, bạn bè; cũng như năm đức tính thường ngày: Nhân, để yêu thương đối với vạn vật; Nghĩa, để cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải; Lễ, để tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người; Trí, để thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai và Tín, để giữ đúng lời hứa. Đồng thời ngài cũng thực hiện tốt đẹp 8 nhân đức nền tảng Kitô Giáo trong hai chiều kích “mến Chúa yêu người”. Ba nhân đức đối thần: Tin, Cậy, Mến. Và Năm nhân đức đối nhân: bác ái, khôn ngoan, công chính, can đảm và tiết độ.

Ông trùm Đích nêu gương sáng về ngũ luân, ngũ thường. Ông trùm Ðích, chính tên là Nguyễn Khiêm, sinh năm 1769 tại làng Chi Long xứ Nam Xang, tỉnh Hà Nội. Cha mẹ là người ngoan đạo, thấy họ Chi Long xa nhà thờ thì bỏ họ ấy mà đem con cái cửa nhà đến ở làng Kẻ Vĩnh, nơi có nhà chung, có các linh mục ở gần để tiện bề đi nhà thờ. Ông bà đến làng Kẻ Vĩnh và xin nhập làng Kẻ Vĩnh. Ông Ðích từ đó sinh sống tại làng này, ông lập gia đình với người làng Kẻ Vĩnh và sinh hạ được mười người con. Ông Ðích là người hiền lành thật thà từ nhỏ, chẳng hề cãi mắng buồn giận ai bao giờ, ông không chửi mắng con cái hay nói năng đến vợ bao giờ. Ông cũng chẳng chơi bời, cờ bạc rượu chè mà chỉ chuyên chú làm ăn và giữ đạo. Trong gia đình, sáng tối cả gia đình đều đọc kinh chung với nhau không bao giờ bỏ. Có người đã đến trọ nhà ông, sau này kể lại là chẳng bao giờ trốn được đọc kinh với ông ấy. Về vấn đề đi dự lễ, ông bắt chẳng những con cháu và người nhà phải đi lễ Chúa Nhật mà cả lễ ngày thường, chỉ để lại một hai người ở nhà coi nhà mà thôi. Chính ông làm gương cho vợ con, ông đi lễ hằng ngày và cầu nguyện sốt sắng. Ông ăn chay suốt mùa chay. Hằng ngày ông lần hạt rất nhiều lần.

Ông trùm Ðích có lòng kính mến các đấng các bậc tu trì. Ông hay gửi quà biếu xén nhà chung và làm phúc quần áo cho các chú các thầy. Ông chẳng tiếc công tiếc của với các vị tu trì. Có một năm trong nhà chung bị dịch tả, người chết rất nhiều, số còn lại ốm đau. Bấy giờ ngoài làng có một số người tình nguyện rước các thầy về nhà mình để phục thuốc và đôi khi chờ đến khi khỏe hẳn mới cho trở về nhà chung, ông trùm Ðích rước tám thầy về nhà mình để phục thuốc. Về sau, đức cha muốn bù tiền phí tổn cơm nước thuốc men cho ông, nhưng ông không chịu nhận. Lúc bị cấm đạo các thầy phải tản mát các nơi, thì ông chứa chấp các thầy tràng nhất (các chú đang học lớp 12) tại nhà ông chừng hai năm. Quả thật can đảm! Vì có sắc chỉ vua ban ra, ai chứa chấp các đấng bậc mà ông bị bắt. Trước kia ông đã chứa Ðức Cha Dụ, rồi 3, 4 năm sau lại chứa Cha Năm. Thấy lòng tốt của ông, nên các đấng bậc rất tin tưởng thường đi lại nhà ông. Riêng Cha Năm đối xử với ông như anh em ruột vậy. Có lẽ Thiên Chúa đã tiền định để cho đôi bạn quý này được cùng chịu khó vì Chúa với nhau. Ông có lòng thương kẻ khốn khó, nhất là những người bị bệnh phong cùi. Ông thương họ cách đặc biệt. Ông thường đến an ủi giúp đỡ họ và khuyên bảo họ vâng theo thánh ý Chúa. Người ở trại phong thường cậy ông mua và lo liệu mọi sự cho họ. Ông trùm Ðích chẳng bao giờ làm trùm họ, nhưng vì lòng đạo, tư cách của ông cũng như vì tuổi tác mà giáo dân đã kính trọng ông và gọi ông là ông trùm.

Trong hơn một tháng phải giam, ông trùm Ðích siêng năng đọc kinh cầu nguyện. Ông xin Chúa ban ơn giúp sức để chịu khó cho nên. Ðừng kể việc đọc kinh chiều sớm với các bạn tù, mà ông còn đọc kinh riêng nữa. Ở trong tù, Cha Năm cùng ông và các bạn tù cứ đọc kinh to như ở ngoài vậy. Các lính canh ngục cũng làm ngơ không nói gì. Ông cũng xưng tội hai ba lần và chịu lễ ít là một lần. Những đồ ăn con cháu gửi ông đem phân phát cho những tù nhân cũng bị giam với mình.

Ông trùm Đích đặc biệt vượt trổi về thành quả giữ tình thân với con cái và giáo dục chúng. Ông dạy bảo và giáo dục con cái cẩn thận chẳng nuông chiều con cái. Dù con cái đã lớn khôn hay đã có vợ con, ông vẫn tiếp tục coi sóc răn bảo. Có đứa con nào cứng cổ cứng đầu thì ông đánh đòn răn bảo, chẳng nuông chiều một đứa nào. Các con cái ông nhờ được ông giáo dục mà sau này nên người không một ai hư hỏng. Các con đều có lòng đạo đức như ông. Một gia đình mà có bốn người được phúc tử vì đạo. Con trai ông là ông Lý Thi sau này cũng tử vì đạo dưới thời Tự Ðức năm thứ 11, tại Nam Ðịnh. Một người con khác tên là ông Phó Nhâm chẳng chịu bỏ đạo bị đày lên Cao Bằng và chết rũ tù ở trên đó. Con rể ông là ông Lý Mỹ cũng chịu tử vì đạo với ông. Trước mặt kẻ ngoại thực là một thảm cảnh cho gia đình ông. Nhưng trước mặt kẻ có đạo, thực là một phúc Chúa ban cho ông và gia đình.

Khi con cái đã khôn lớn, ông lo liệu gia đình. Ông không đặt vấn đề giàu sang phú quý mà là lòng đạo. Người nào muốn cưới hỏi con cái ông phải đạo đức. Dù giàu có mà khô khan nguội lạnh ông cũng không gả con cho. Trái lại dù nghèo mà đạo đức thì ông cũng bằng lòng ngay. Chẳng những ông lo dạy con cái đạo nghĩa, mà còn lo cho con cái học hành. Trong nhà ông, ông nuôi thầy đồ để dạy chữ nghĩa cho con cái. Nhà ông cũng không phải nghèo hèn trong làng. Ông rất căn cơ mực thước chăm chỉ làm ăn, nên nhà không bao giờ thiếu thốn. Trong gia đình có con ăn đầy tớ, và ông đối xử rất công bằng. Ông chẳng mang tiếng xấu gì trong làng và cũng chẳng ai trách móc ông được điều gì. Dù ông mới gia nhập làng Kẻ Vĩnh, nhưng uy tín của ông rất lớn. Ông được xếp vào hàng huynh thủ trong làng. Con rể ông làm Lý Trưởng, sau này con trai ông là ông Lý Thi cũng làm Lý Trưởng.

Ðang khi ông bị giam ở tỉnh, quan gọi ông ra hầu tòa 4,5 lần và bắt ông bỏ đạo. Bắt ép không được, các quan lại khuyên dụ ông: “Ông đã già rồi, con cái cũng đã khôn lớn, có nhà cửa cả, ông hãy quá khóa mà về ở với con cái, thì chẳng vui hơn sao?”

Trước ông trùm Ðích nghĩ đến những hình khổ mình sẽ phải chịu vì đạo thì sợ hãi lắm, dường như muốn sờn lòng. Tuy nhiên Cha Năm, ông Lý Mỹ, ông Lý Thi và các con cái yên ủi và khuyên bảo ông. Ông được những lời khuyên bảo và an ủi, thì mạnh dạn thưa với quan rằng: “Bẩm lạy quan lớn, về con cái thì mặc con cái, tôi đã lo liệu cho chúng nó rồi. Còn về Ðức Chúa Trời, đã có lẽ tự nhiên buộc tôi phải thờ lạy Người, có lẽ nào tôi lại dám bỏ Người. Quan lớn có tha thì tha, bằng chẳng tha thì chớ đừng ép tôi nữa”.

Ông trùm Ðích không phải đòn vọt, nhưng ông thấy con rể chịu đòn thế mình thì thương con lắm. Có lần thấy con rể bị quan đánh dữ quá, và khi ông Lý Mỹ về tới nhà giam nát cả thịt, máu me chảy ra chan hòa, thì ông trùm nói rằng: “Các quan đánh dữ quá thế này thì con chết mất, chẳng có lẽ nào sống đến ngày xử được”.

3. Gương khôn ngoan, hiếu trung, nhân nghĩa lễ của Ông Micae Mỹ, Lý Trưởng. Ông Micae Lý Mỹ sinh năm 1804 tại trại Ðại Ðăng, giáp tỉnh Vạn Sang nay là tỉnh Ninh Bình. Ông Mỹ là trưởng nam, tên thật ông là Nguyễn Huy Diệu, khi ông lên 10 tuổi thì cha mất, rồi hai năm sau mẹ ông cũng qua đời. Ông và các em ở với người dì. Tuy nhà khó khăn thiếu thốn, nhưng bà dì vẫn liệu cho các cháu ăn học chữ nho. Ông Mỹ học sáng dạ và chăm chỉ học hành. Gia đình ông Lý Mỹ đến lập nghiệp tại làng Kẻ Vĩnh. Ở đấy ông kết hôn với cô Miện con gái ông trùm Ðích. Hai ông bà sinh được tám người con. Ông Lý Mỹ cũng có học qua nghề thuốc và có làm nghề thuốc ít nhiều. Từ bé, ông Mỹ đã có nét nghiêm nghị, khác hẳn với những trẻ đồng tuổi. Ông chẳng những siêng năng đi lễ đi nhà thờ, sớm tối đọc kinh, mà đôi khi người ta còn thấy ông đọc kinh lần hạt riêng một mình ngoài xó vườn.

Sau khi lập gia đình, ông càng ngoan đạo hơn nữa. Bà Lý Mỹ nói rằng: “Ông ấy rất siêng năng đọc kinh tối sớm, dù lúc trong nhà làm công việc cũng chẳng bỏ đọc kinh hay đọc kinh vắn tắt bao giờ. Tối nào vợ con hay đầy tớ bận bịu, hoặc phải làm việc cần nào khác ở nhà, ông bắt đọc kinh chung với nhau trước và đọc sách cho chúng tôi nghe nữa. Ông ấy xưng tội chịu lễ một năm bốn năm lần. Khi toan đi xưng tội, ông xét mình trước hai ngày cùng biên tội mình vào giấy kẻo quên”.

Mọi người trong làng đều coi ông như gương lành để bắt chước. Có lần trai tráng trong làng Kẻ Vĩnh đến hầu cụ Phê, thì cụ bảo chúng nó rằng: “Chúng con hãy soi gương bắt chước ông đồ Diệu (ông Lý Mỹ), vì ông ấy thật là người có nết na hẳn hoi và giữ đạo sốt sắng”.Ông Mỹ thương kẻ khó, và bố thí cho họ. Có năm mất mùa, thiên hạ đói khổ, ông truyền nấu cháo cho kẻ khó ăn, vì ông sợ cho gạo, họ sẽ ăn xong và đau bụng mà chết.

Đặc biệt, trong chức vụ lý trưởng, Ông lý Mỹ nêu gương sáng ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín; và nhất là chữ trí, khôn ngoan. Tuy còn trẻ, nhưng tư cách và uy tín của ông đáng kính phục. Ông là người sắc sảo giỏi giang, ông ăn ở chính trực và ăn nói lý sự. Có lần trong làng khuyết một chân cai tổng, lý trưởng trong làng đến nhà ông xin ông ra làm việc chung, nhưng ông không chịu. Về sau ông lại được bầu làm lý trưởng, ông cũng không nhận. Ðức Cha Dụ phải khuyên bảo ông nhận làm lý trưởng để bênh đỡ nhà chung và giữ dân trong thời buổi cấm đạo ông mới vâng lời ra làm lý trưởng.

Trong thời gian làm lý trưởng, ông điều hành rất giỏi. Ðức Cha Liêu sau này làm chứng rằng nhà chung và dân làng nhờ ông rất nhiều. Ông chẳng ăn bớt của dân chút nào mà có khi còn bỏ của nhà ra làm việc chung. Người ta kiện cáo nhau hay con cái kiện tụng chia của đều đến với ông Lý Mỹ, vì ông xử sự rất công bằng. Khi đã lo liệu việc gì cho ai mà họ đem lễ vật đến tặng dù ít dù nhiều ông cũng không nhận. Người ta có biếu ông một hai trăm cau ông mới nhận, mà chẳng tạ gì cũng chẳng sao.

Khi phải sửa phạt dân, ông đánh đòn sửa phạt thẳng thắn chẳng thiên vị một ai. Cho nên dù ở trong làng hay ở ngoài đồng chẳng ai lấy trộm của ai. Cả hàng tổng đều khen ngợi làng Kẻ Vĩnh nghiêm hơn các làng khác. Ban đêm ông Lý Mỹ đi dọ bắt những kẻ đánh bạc. Có lần ông bắt bạc, và trong số bị bắt có người đầy tớ riêng của ông ở trong số đó. Anh này kể lại: “Một lần ông ấy bắt được tôi cùng ba anh nữa đang đánh bạc, ông ấy đánh mọi người 40 roi, còn phần tôi là đầy tớ riêng ông ấy nên ông ấy đánh 60 roi”.

Những người đàn bà hay la lối chửi rủa, ông cũng đánh. Trong làng Kẻ Vĩnh có người đàn bà hoang thai đã hai lần, đền lần thứ ba có người bàn với ông Lý Mỹ đuổi bà ta ra khỏi làng, nhưng ông Lý Mỹ không nghe lại nói rằng: “Phải để nó ở đây, hoặc sau này nó ăn năn sửa mình lại chăng. Nếu đuổi nó đi, nó sẽ đi với kẻ ngoại đạo mà mất linh hồn”.

Sau đó ông lấy cái nia, khoét thủng ở giữa, bắt bà ta đút đầu vào, rồi lấy cái nồi đất bôi vôi úp lên đầu và trao cho đầy tớ cầm roi điệu đi quanh làng, đồng thời bắt bà đó rao to lên để bà xấu hổ mà chừa.

Thấy cách xử sự của ông với người ngoại tình ai cũng khen ông có tính thương người, chỉ mong cho người ta sửa mình. Khác hẳn với cách phạt của các làng bên ngoài là gọt đầu bôi vôi và thả bè trôi sông cho chết. Khi cần phải sửa phạt ai, ông không phạt vì nóng giận hay gắt gỏng. Ông ấy vừa truyền đánh người ta vừa nói truyện vui vẻ như thường, coi như đó là phép tắc phải vậy.

Với bà Mỹ, Ông lý Mỹ nêu gương về nghĩa tào khang; Với con cái Ông nêu gương về chữ thân, chữ từ và giáo dục chúng. Vợ chồng con cái đầy tớ chẳng những đi lễ các ngày lễ cả, mà cả các ngày thường nữa. Trong mùa chay ông ăn chay một tuần hai ngày, thứ Tư và thứ Sáu. Vợ chồng hòa thuận thương yêu nhau. Ông ăn ở hiền lành với vợ con chẳng bao giờ nặng lời với vợ con. Vợ chồng ông chẳng cãi mắng nhau bao giờ. Trong suốt 18 năm trời vợ chồng ăn ở với nhau chỉ có một lần ông Lý Mỹ đánh bà ấy ba cái vì bà ấy lười không chịu đọc kinh. Bà Lý Mỹ nói rằng vợ chồng chỉ mất lòng nhau có một lần ấy mà thôi. Bà Lý Mỹ lại nói rằng: “Tôi chẳng thấy ông ấy uống rượu, đánh bạc hay là chửi bao giờ, chỉ chuyên một việc làm ăn, săn sóc cửa nhà và giữ đạo”.

Ông Lý Mỹ vẫn ao ước được phúc tử đạo từ lâu. Có lần ông hỏi bà Lý Mỹ rằng: “Nè ta được phúc tử vì đạo, thì mẹ nó có bằng lòng chăng?” Bà Mỹ đáp lại rằng: “Thày nó được phúc trọng ấy, thì tôi bằng lòng lắm chứ”. Ông Lý Mỹ nghe như thế thì bằng lòng lắm. Thực là một cử chỉ anh hùng và hy sinh vì Chúa của bà Mỹ. Ông nói lời trên với vợ ngày hôm trước thì hôm sau quan đến vây làng và ông bị bắt.

Ở trong tù, Quan hỏi: “Sao mày chẳng thương vợ con? Con cái còn bé mọn yếu đuối, sao mày nỡ quên tình cha mà không thương con thế vậy? Dù chúng tao chỉ nghĩ tới hay trông thấy chúng nó thì cũng xót còn mày mê man làm sao mà chẳng quá khóa đi?” Ông Lý Mỹ thưa lại quan: “Tôi tính sao hả? Tôi có mê đâu! Vợ con là của Ðức Chúa Trời phó cho tôi, tôi coi sóc dạy dỗ khi có thể làm được. Mà bây giờ Ðức Chúa Trời định cho tôi ở trong tay quan lớn, thì tôi cũng phải vâng ý Người, cũng như vợ con tôi phải vâng ý tôi. Sao ông lại bảo lăng nhăng xàng xiên rằng tôi phải bỏ đạo, bỏ Ðức Chúa Trời là phải lẽ sao?”

Bà Lý Mỹ có lần bế con mới sinh được mấy tháng ra tỉnh thăm chồng cũng yên ủi khuyên bảo chồng chịu khó cho trọn, đừng lo cho vợ con làm chi. Vì nhờ ơn Chúa giúp sức thì mình cũng có thể ra sức dạy dỗ chúng nó được. Con gái lớn ông tên là Mỹ, mới 12 tuổi, đi trộm mẹ ra tỉnh mất gần nửa ngày trời để thăm cha trong ngục. Nó phải qua 2,3 lần cửa lính canh rất ngặt. Ðến gặp ông, nó thưa ông rằng: “Xin cha hãy chịu khó chịu chết vì đạo”. Ðứa con trai ông lên 9 tên là Tường, nhỏ quá không lên thăm bố được, nên nhắn những người lên tỉnh thăm cha thưa rằng: “Xin cha đừng có quá khóa, cứ vững lòng xưng đạo ra và chịu chết vì đạo, đừng lo đến chúng con làm chi”. Thật là một hồng phúc cho ông. Mọi người thân yêu đều có lòng tin mạnh mẽ, khuyến khích ông can đảm chết vì Chúa. Thấy vợ con có lòng sốt sắng và đạo nghĩa như vậy, ông rất an ủi. Ông nhắn bảo con cái ở nhà giữ đạo cho vững vàng và trông cậy Ðức Chúa Trời thương xem phù hộ cho.

Với ông trùm Đích, bố vợ, ông lý Mỹ rất hiếu thảo. Thấy cha vợ là ông trùm Ðích đã già yếu, lại có tính sợ đòn, phàn nàn không biết có bền vững chịu các hình khổ không, thì ông Lý Mỹ khuyên cha vợ: “Cha đã già rồi, lại yếu đuối, chẳng trông sống được bao lâu nữa, nếu cha chẳng chết vì đạo khi này, thì chẳng bao lâu nữa cha cũng chết bệnh. Nhưng nếu cha chết vì đạo, thì sẽ làm sáng danh đạo và sẽ được phúc thanh nhàn vui vẻ trên Thiên Ðàng đời đời. Nếu cha xuất giáo mà về nhà phải chết bệnh thì sẽ mang tiếng là kẻ bỏ đạo cùng liều mình mất linh hồn. Giả như có ai mến tiếc sự sống đời này, thì phải là con, vì con còn trẻ tuổi, khỏe mạnh. Nhưng con chẳng tiếc sự sống, lại vui lòng bỏ sự sống cho danh Ðức Chúa Trời được cả sáng. Con cái cha đã lớn rồi. Cha có sống ở với chúng nó thì cũng chẳng giúp chúng nó được việc gì. Nếu cha chết vì đạo thì sẽ làm gương sáng cho chúng nó và làm cho chúng nó được trọng trước mặt người ta. Vợ con còn trẻ tuổi, bốn đứa con của con còn bé dại chưa làm được gì mà ăn, nhưng con tin thật Ðức Chúa Trời đã sinh chúng nó ra, thì người cũng sẽ nuôi chúng nó nữa. Vả lại khi con đã được lên Thiên Ðàng thì con sẽ cầu nguyện cho chúng nó. Khi cha nghĩ đến những đòn vọt cha phải chịu chỉ lo sợ chẳng biết có chịu được chăng, song cha đừng lo, đừng sợ làm chi. Vì con sẽ chịu đỡ cho cha. Vậy xin cha hãy cứ vững lòng xưng đạo ra cùng làm chứng cho thiên hạ biết ta là kẻ tin cùng giữ đạo thật lòng và ta sẵn lòng chịu chết vì Ðức Chúa Giêsu đã chịu chết cho chúng ta”.

Ông Lý Mỹ nói thế nào thì giữ như vậy. Hễ lần nào quan toan đánh ông Ðích thì ông lại xin quan: “Lạy quan lớn, cha tôi già nua tuổi tác cùng yếu đuối, xin quan lớn tha cho cha tôi, tôi xin chịu đòn thay cho cha tôi”. Quan thấy ông có lòng hiếu thảo, thì ưng tha cho ông trùm Ðích và đánh ông Lý Mỹ. Có lần ông Mỹ chịu đòn thay cho ông trùm Ðích về, thì nói với ông trùm Ðích rằng: “Lạ thay bởi ơn Ðức Chúa Trời thương, khi quan đánh, thì con không thấy đau là mấy”. Ông nói vậy, nhưng mọi người đều biết rõ ông bị đòn rất đau. Khi về đến ngục, quần áo ông đã rách nát hết và máu me chảy đầm đìa cả. Thấy con chịu đòn thay mình đau đớn như vậy, ông trùm Ðích rất thương con. Cha Năm, ông trùm và ông Lý Mỹ nhất quyết đổ máu mình ra vì Chúa. Ba ngày trước khi xử, ông Lý Mỹ nói rằng: “Các đau đớn đã khỏi cả chỉ trừ có một chỗ đau chưa khỏi mà thôi.”

Ông lý Mỹ được quan quân và dân chúng kiêng nể. Bị bắt, về tới đồn Lục Bộ, quan hỏi ông có bỏ đạo không thì cho về, nhưng ông nhất định không chịu bỏ đạo. Ở Lục Bộ, một người huynh thứ trong làng Kẻ Vĩnh đến bàn với ông về việc hối lộ để chuộc ông ra, nhưng ông Lý Mỹ không chịu lại nói rằng: “Xin cám ơn dân có lòng, dân có lòng thì trả ơn dân, nhưng đừng chạy chuộc tội, xin để tiền ấy mà giúp vợ con tôi và làm bữa mừng khi đem xác tôi về”.

Ông Lý Mỹ bị hành hạ khổ sở hơn hết vì các quan thấy ông còn trẻ trung lại có tài mới ra mật lệnh đánh đập để cho ông sợ mà đành chịu bỏ đạo. Vì thế ông bị hành hạ rất khổ sở trước khi ông bị xử trảm. Ông chẳng những chịu đòn phần mình mà còn vì thương cha vợ là ông trùm Ðích, ông xin chịu đòn thế cho ông trùm. Tính ra ông phải bị đánh đến hơn 500 roi đòn, hai mông rách nát cả thịt ra chẳng còn nơi đâu lành. Cổ chân cổ tay sưng đầy lên vì nọc thẳng quá, và còn bị đeo gông cùm nặng nề. Tuy bị đòn đau như thế mà ông vẫn can đảm không kêu ca. Ðến nỗi có quan phải thốt lên: “Thằng này chết đoạn sẽ làm thành hoàng đất của nó. Thằng này chẳng phải là người vừa đâu”.

Ngoài ra các quan còn làm hết cách để dụ dỗ ông. Có khi dụ dỗ cùng lúc với Cha Năm và ông trùm Ðích, có khi thì dụ dỗ riêng một mình ông. Có lần quan bảo ông: “Mày là thằng giỏi giang lại trẻ tuổi, lý sự và coi sóc dân làng giỏi, ai cũng được nhờ, sao mày dại mà chẳng chịu quá khóa đi?” Ông Mỹ thưa lại: “Sao tôi lại dại? Khi chưa có tôi thì đã có dân, thế thì ai coi sóc dân lúc bấy giờ? Nhưng mà linh hồn tôi thì tôi phải coi giữ, cho nên tôi chẳng bỏ linh hồn tôi mà nghe lời quan đâu”.

Có một lần quan truyền cho lính kéo ông qua ảnh thánh giá. Quân lính lôi ông qua và reo lên: “Anh này quá khóa rồi”. Lúc đó ông Lý Mỹ kêu lên: “Bẩm lạy quan lớn, ông lớn kéo voi qua thập tự thì cũng được, nhưng mà chúng tôi nhất định không chịu bước qua Chúa chúng tôi thờ đâu!” Thấy ông trả lời khôn ngoan, các quan lại càng bực tức làm như chẳng lẽ mình lại thua một thằng tù. Các quan càng ra lệnh hành hạ ông hơn nữa.

Có lần đến trước quan án, mà quan cứ giục ông phải bỏ đạo, nên ông nói chọc quan lớn: “Giả như giặc giã đến đây mà truyền cho chúng tôi đập đầu quan lớn để chúng tôi được sống, thì chúng tôi dám làm, nhưng Chúa chúng tôi thờ thì chúng tôi chẳng dám làm đâu”. Quan nghe vậy tức giận quá, liền cầm cái quạt ném vào mặt ông trúng vào con mắt ông, ông đau đớn quá ngã xuống sân.

Lần khác quan hỏi ông Lý Mỹ: “Thiên Ðàng là gì?” Ông Lý Mỹ chẳng cắt nghĩa Thiên Ðàng là làm sao, chỉ thưa với quan rằng: “Lát gươm quan lớn ban cho tôi là đường đi lên Thiên Ðàng đấy”.

Có lần khác quan thương tình khuyên bảo ông: “Mày còn trai tráng, và giỏi giang. Mày đã làm lý trưởng, nếu biết điều mày cũng có thể trở nên giàu sang, và được phong lưu sống lâu. Mày hãy quá khóa đi, thì được về nhà ở với vợ con. Nhiều kẻ khác đã quá khóa rồi, sao mày chẳng bắt chước chúng nó quá khóa, khi về nhà thì mày muốn giữ đạo thế nào cũng được”. Ông Lý Mỹ thưa lại quan: “Bẩm lạy quan, tôi đã xem sách đạo và hiểu lẽ đạo, tôi đã biết đạo Ðức Chúa Trời là đạo thật cho nên tôi không thể bỏ được. Giả như có ai bảo quan lớn đập đầu Ðức Hoàng Ðế đã ban quyền cao chức trọng cho quan, ắt là quan lớn chẳng dám làm. Vậy tôi dám đạp ảnh Ðức Chúa Trời là Chúa tôi thờ làm sao được? Tôi chẳng tiếc sự sống hèn sống tạm ở đời này, vì thế nào tôi cũng phải chết. Nếu chẳng chết trước thì cũng chết sau. Còn về của cải chức quyền thì xin quan lớn biết rằng chẳng có chức quyền và của cải nào sánh bằng phúc trọng tôi sẽ được chết vì đạo. Tôi vốn thương vợ con tôi lắm, nhưng tôi sẵn lòng lìa bỏ họ vì tôi biết rằng Ðức Chúa Trời sẽ coi sóc chúng nó, và ngày sau sẽ cho tôi được gặp họ trên Thiên Ðàng. Quan lớn dạy rằng có nhiều người bỏ đạo. Vậy những thằng lính vì sợ giặc bỏ chạy cũng bỏ thầy mình thì có ra gì? Tại sao quan lớn lại dạy tôi bắt chước chúng nó?”

Có người đến thăm ông đem ý nghĩ liệu cách để cho ông được tha, ông liền mắng lại: “Ai khiến các anh đến thăm tôi mà nói những điều càn dở như vậy? Tôi có về thì các anh sẽ khóc, nhưng khi đem xác tôi về làng, thì các anh sẽ mừng”.

Sau khi xử hai đấng, tên lý hình đòi ông Lý Mỹ năm quan tiền thì sẽ xử một nhát mát mẻ. Nhưng ông bảo rằng: “Năm quan tiền để làm phúc cho kẻ khó, chẳng có tiền cho chú mình đâu, muốn băm vằm thế nào thì mặc”. Lý hình bực tức, chém một nhát trượt không đúng, chỉ đứt một miếng thịt nơi cằm, ông Lý Mỹ ngã xuống. Mãi đến nhát thứ năm mới đứt đầu.

Ông bị xử ngày 12-8-1838. Sau khi xử tử, quan cho phép ông Lý Thi được khiêng xác ba đấng về làng Kẻ Vĩnh. Ðến đêm xác mới về tới làng. Dân làng và các làng bên đốt đuốc và đánh trống ra đón rước xác các ngài về rất vui vẻ mừng rỡ như ngày hội. Sau này bớt cấm đạo đức cha và nhà chung cùng bổn đạo hay ra viếng mồ ba đấng. Mỗi khi có lễ trọng và lễ quan thầy đức cha, giáo dân lại đến viếng xác ba đấng. Dân chúng đến lần hạt và ngắm Ðàng Thánh Giá. Trong ba đấng thì dân chúng quý ông Thánh Mỹ hơn cả. Ðúng như lời các quan đã tiên đoán về ông: “Tên này sau khi chết sẽ làm thành hoàng đất nó”.

Như vậy, thánh lý Mỹ, đã sống và giũ gìn và nêu gương sáng về năm đức: nhân, nghĩa, lễ, trí và tín. Làm lý trưởng, ông lý Mỹ ăn ở có Nhân có Nghĩa với mọi người trong làng, từ những người nghèo hèn, qua tuần đinh, quan viên, đến bô lão; có Tín có Lễ với các bề trên quan quyền, cha chú, cũng như với dân làng; có trí, có đức trong mọi quyết định, hành xử, đối đáp. Đó là những lý do khiến mọi người quan quyền cũng như dân làng kính nể ông. Về đời sống gia đình, ông hiếu thảo với cha mẹ, có nghĩa có tình với vợ; có thân có từ với con cái. Còn về đời sống thiêng liêng với Chúa, lòng tin cậy mến của ông thực vững mạnh, dũng cảm và phó thác. Trong con người ông lý Mỹ hai khuôn mặt việt nam và công giáo hòa đồng cuốn quyện vào nhau một cách tuyệt hảo. Chân ông đạp đất Việt Nam, lòng ông quyện vào văn hóa ngũ luân ngũ thường, trí ông mơ về một khát vọng tuyệt đối, vĩnh cửu của Nước Trời.

KẾT LUẬN

Văn Hóa Việt Nam, từ khởi thủy và dưới ảnh hưởng của những nền văn hóa chung quanh, đã được tô đậm với bốn nét: Âu Lạc, Ấn Phật, Lão Trang và nhất là Khổng Mạnh. Trong đạo Khổng Mạnh, ngũ luân và ngũ thường là quan trọng hơn cả. Ngũ luân là 5 mối quan hệ chính trong xã hội: CHA CON có tình thân, VUA TÔI có nghĩa, CHỒNG VỢ có sự phân biệt, ANH EM lớn nhỏ có thứ tự, BẰNG HỮU có lòng tin. Ngũ thường là năm đạo cư xử phải có hằng ngày: NHÂN là cách cư xử từ thiện, nhân hậu, NGHĨA là cách cư xử hào hiệp, chính đáng, trách nhiệm, LỄ là cách cư xử theo đúng nguyên tắc, nghi thức, có tôn trọng, hòa nhã, TRÍ là cách cư xử khôn ngoan, có suy nghĩ, tiên liệu, tính toán để hành động cho hợp đạo lý, TÍN là giữ đúng lời, đáng tin cậy. Nhưng các vua quan Việt Nam, muốn độc tôn vua, đã giữ nguyên ngũ thường, nhưng đả biến ngũ luân thành tam cương: ba giềng mối: Quân – thần (Vua – tôi) thì tôi phải trung với vua, Phụ – tử (Cha – con) thì con phải hiếu với cha, và Phu – phụ (Chồng – vợ) thì vợ phải tùy theo chồng.

Tất cả 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam đều đã có một cách cư xử chung, qui chiếu về 3 điểm sau đây. 1-Không một vị thánh nào đã làm chính trị, hiểu theo nghĩa lập phe đảng để chống lại triều đình; 2-Và tất cả các ngài đều hết rất tôn trọng vua quan và 3-hết lòng vì quê hương.

Trong cụ thể, lấy trường hợp ba thánh là cha Năm, ông trùm Đích và ông Lý Mỹ, thì họ đã sống văn hóa ngũ luân ngũ thường việt nam một cách đầy đủ, đáng làm gương sáng cho mọi người Việt Nam, kể cả các vua quan.

Thánh Linh Mục Năm, giáo sĩ đạo trưởng, sống và nêu gương lãnh đạo trung tín như người cha tinh thần: nhân ái với con người, trung tín với Thiên Chúa; can đảm vui vẻ đón nhận tử đạo, đã đặc biệt muốn chăn dắt tín hữu, rao giảng Phúc Âm và tìm kiếm vinh danh Thiên Chúa; được các quan thương mến. Thực ra, gương công chính của các linh mục công giáo, làm nhiều quan chức đã không đồng ý bắt đạo, và đã tìm nhiều cách cứu giúp, kết nghĩa, trọng đãi, tránh xử. Như vậy, qua những hành xử của mình, cha Năm đã sống và thực hiện một cách trọn hảo văn hóa ngũ luân, ngũ thường.

Thánh Trùm Đích, Gia Trưởng, đã sống và nêu gương đức độ hiền lành dậy bảo con cái: nêu gương sáng về ngũ luân, ngũ thường; đặc biệt vượt trổi về thành quả giữ tình thân với con cái và giáo dục chúng.

Thánh Micae Mỹ, Lý Trưởng, nêu gương sáng ngũ thường: nhân, nghĩa, lễ, trí, tín và nhất là chữ trí, khôn ngoan trong chức vụ lý trưởng; được quan quân và dân chúng kiêng nể; nêu gương về nghĩa tào khang vợ chồng; nêu gương về chữ thân, chữ từ và giáo dục con cái; rất hiếu thảo với ông trùm Đích, bố vợ. Tóm lại, thánh lý Mỹ, đã sống và nêu gương sáng về năm đức: nhân, nghĩa, lễ, trí và tín.

Những điều chúng ta vừa trình bày trên đây, hôm nay, 2013, nhiều người hơn đã chấp nhận. Trên mạng của Ban Tôn Giáo Chính Phủ, đang cho phổ biến một bài của tác giả Kiều Đình Nga dưới đầu đề: “Ảnh hưởng của Công giáo với nền văn hóa Việt Nam”, trong đó người ta đọc được những nhận định như:

Thâm nhập vào Việt Nam giữa lúc chế độ phong kiến đang khủng hoảng trầm trọng, nạn đói kém tràn lan, đạo Công giáo đã trở thành chỗ dựa tinh thần cho người dân đang cần niềm an ủi. Với truyền thống bao dung, người Việt Nam dễ dàng chấp nhận mọi tôn giáo ngoại lai miễn là nó phù hợp và đến với thiện chí hòa bình.

Công giáo tại Việt Nam, nơi chịu ảnh hưởng của ba tôn giáo lớn (Phật, Khổng, Lão), thường bị phê phán là ngoại lai với dân tộc, vì ảnh hưởng của Công giáo đối với văn hóa Việt Nam còn rất hạn chế, nhưng cùng với thời gian đạo Công giáo đã có những ảnh hưởng và đóng góp nhất định vào nên văn hóa Việt Nam. Đạo Công giáo đến Việt Nam giai đoạn đầu cũng được đón tiếp nồng nhiệt. Gặp được Công giáo và nghe những lời giảng của các linh mục trong hội truyền giáo, đông đảo những nông dân nghèo đã hồ hởi tiếp đón Tin Mừng, vì Tin Mừng làm sáng tỏ và nổi bật lên những yếu tố vốn tiềm tàng trong tâm thức tín ngưỡng dân gian, là chất liệu sống của thôn làng cả ngàn năm. Họ đã tin theo và trở thành những tín hữu nhiệt thành đến mức phải chịu nhưng sự khủng bố, bắt đạo ngặt nghèo của vua quan [4].

Về Lộ-Đức các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam đã nghe lời mời của các tuyên úy để ” MỪNG 25 NĂM TUYÊN PHONG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT-NAM – SỐNG ĐỨC TIN THEO GƯƠNG TIỀN NHÂN. “

Người tín hữu nặng tình, yêu quê hương, yêu đất nước, yêu dân tộc, không khỏi cảm kích nhìn ra gương sáng sống, giữ gìn và đốt sáng văn hóa Việt Nam của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Chắc chắn họ sẽ cầu xin, để gương lành này được dãi tỏa nơi tín hữu và lương dân Việt Nam.

Chắc chắn họ sẽ theo lời xướng của Cha Tổng Tuyên Úy Nguyễn Kim Sang, mà hát bài thánh ca “Đây Bài Ca Ngàn Trùng” và “Nguyện xin các Thánh Tử-Đạo Việt-Nam cầu bàu và phù giúp chúng ta luôn trung thành với niềm tin và biết noi gương các Ngài đễ minh chứng cho Tình yêu của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, dù phải gặp những khổ giá của cuộc đời“.

Paris, ngày 28 tháng 07 năm 2013
Trần Văn Cảnh

Ghi chú

(1). Trần Văn Cảnh trong Văn Hóa Gia Đình; Paris; Giáo Xứ Việt Nam; 2006, tr. 23-24

(2). Trần Trọng Kim: Việt nam sử lược, q. 1 & II; Fort Smith: Sống Mới; 1978.

(3). Ibid. tr. 228.

(4). Đinh Kiều Nga: Ảnh hưởng của Công giáo với nền văn hóa Việt Nam, Nguồn: Ban Tôn Giáo Chính Phủ, http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/3171/


Bài 5. GƯƠNG THĂNG HOA VĂN HÓA VIỆT NAM CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Cho đến thế kỷ XVI Văn Hóa Việt Nam, từ khởi thủy và dưới ảnh hưởng của những nền văn hóa chung quanh, đã được xây dựng và tô đậm với bốn nét: Âu Lạc, Ấn Phật, Lão Trang và nhất là Khổng Mạnh. Trong đạo Khổng Mạnh, ngũ luân và ngũ thường là quan trọng hơn cả. Ngũ luân là 5 mối quan hệ chính trong xã hội: CHA CON có tình thân, VUA TÔI có nghĩa, CHỒNG VỢ có sự phân biệt, ANH EM lớn nhỏ có thứ tự, BẰNG HỮU có lòng tin. Ngũ thường là năm đạo cư xử phải có hằng ngày: NHÂN là cách cư xử từ thiện, nhân hậu, NGHĨA là cách cư xử hào hiệp, chính đáng, trách nhiệm, LỄ là cách cư xử theo đúng nguyên tắc, nghi thức, có tôn trọng, hòa nhã, TRÍ là cách cư xử khôn ngoan, có suy nghĩ, tiên liệu, tính toán để hành động cho hợp đạo lý, TÍN là giữ đúng lời, đáng tin cậy. Nhưng các vua quan Việt Nam, muốn độc tôn vua, đã giữ nguyên ngũ thường, nhưng đả biến ngũ luân thành tam cương: ba giềng mối: Quân – thần (Vua – tôi) thì tôi phải trung với vua, Phụ – tử (Cha – con) thì con phải hiếu với cha, và Phu – phụ (Chồng – vợ) thì vợ phải tùy theo chồng.

Tất cả 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam đều đã có một cách cư xử chung, là “sống văn hóa việt nam một cách đầy đủ, đáng làm gương sáng cho mọi người Việt Nam, kể cả các vua quan đã bắt bớ, cầm tù và giết hại họ [1].

Từ thế kỷ XVII Văn hóa Việt Nam đã có thêm tầng thứ năm, đó là tầng Thiên Chúa Giáo. Vào Việt Nam, dẫu bị cấm cản liên tục trong 4 thế kỷ, từ XVII đến cuối XX, nhưng số người lớn vào đạo công giáo vẫn tăng, trong đó không chỉ có dân đen, nhưng cả những bậc quan quyền, trí thức. Chiếm khoảng 7% dân số, người Công Giáo Việt Nam và đặc biệt các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã xây thêm những nét tạo hình nào cho văn hóa Việt Nam và đóng góp gì cho quê hương, tổ quốc và dân tộc? Trên bình diên tổng quát và trong lãnh vực văn hóa tôn giáo?

A. Trên bình diện tổng quát, người Việt Nam Công Giáo đã khai sáng ra chữ quốc ngữ phát triển Văn Học, góp phần bảo vệ tổ quốc và mở mang bờ cõi,

1. Người công giáo khai sáng ra chữ quốc ngữ và góp phần phát triển văn học nghệ thuật Việt Nam. Viết “Lời giới thiệu” cho tập khảo cứu “Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659» của Đỗ Quang Chính, giáo sư sử học Nguyễn Thế Anh đã nhận định một cách chính đáng rằng: “Để thực hiện công cuộc truyền đạo của họ tại Đại Việt, các giáo sĩ Dòng Tên ngay từ khoảng đầu thế kỷ thứ XVII đã cố gắng tạo nên một lối chữ viết căn cứ trên mẫu tự la tinh, nhờ đó có thể diễn tả ngôn ngữ Việt. Từ những sự dò dẫm phiên âm các nhân danh và địa danh lúc ban đầu, cho đến lúc Đắc Lộ cho xuất bản hai sách quốc ngữ đầu tiên vào năm 1651, các cố gắng tập thể của các nhà truyền đạo Tây Phương cho phép thành lập chữ viết của chúng ta ngày nay” [2]. Năm 1651 cho xuất bản hai cuốn sách quốc ngữ đầu tiên: cuốn “Tự điển việt bồ latinh” và cuốn “Phép giảng tám ngày“, giáo lý công giáo, cha Đắc Lộ, dòng Tên, đã khai sinh ra chữ quốc ngữ [3].

Trong lãnh vực sách quốc ngữ với những tác phẩm của cha Philipphê Bỉnh, của cố Pierre Cadro Lương, …chữ quốc ngữ đã mở đầu một nền văn học công giáo. Chẳng bao lâu sau đó, những nhà văn quốc ngữ bậc thầy đã xuất hiện, như Trương Vĩnh Ký, Huỳnh Tịnh Của. Rồi sự ra đời vào năm 1865 của tờ báo quốc ngữ đầu tiên ở Nam kỳ, tờ “Gia định báo“; Từ 1905, chữ quốc ngữ lại được các nho gia cách mạng trong phong trào duy tân Đông Kinh Nghĩa Thục, như Lương Văn Can, Nguyễn Quyền, Phan Chu Trinh,… cổ võ và truyền bá. Chẳng bao lâu sau, chữ quốc ngữ đi vào học trình các trường sư phạm, đại học, thông ngôn. Năm 1907, Đông Cổ Tùng Báo ra đời với chủ bút Nguyễn Văn Vĩnh. Nhiều báo khác tiếp theo, như Đông Dương tạp chí với Nguyễn Văn Vĩnh, Nam Phong tạp chí với Phạm Quỳnh?…. Các nhà in được thiết lập, hội dịch sách ra đời,…Công việc biên khảo và phê bình phát triển,…Các ký sự, tiểu thuyết mới xuất hiện,…Thơ mới ra đời, .. Tự Lực Văn Đoàn,…cả một nền văn học mới đã được chữ quốc ngữ mở ra, mang theo một nền văn hóa mới, đặt căn bản trên tự do và trách nhiệm cá nhân, hướng về tương lai, dựa vào khoa học khách quan, xây dựng quốc gia trên nền tảng công ích, lương thiện, sự thật và công bình [4].

Vào Việt Nam từ 1533, công giáo đã mang Tin Mừng cho người Việt Nam. Khai sinh ra chữ quốc ngữ vào năm 1651, công giáo đã đưa ra những đóng góp tạo hình quan trọng của mình vào văn hóa việt nam.

2. Người công giáo góp phần tham dự các phái đoàn thương thuyết bảo vệ Tổ quốc

Năm 1787, Nguyễn Vương sai Hoàng tử Cảnh cùng phái đoàn đến Pháp. Ngoài Đức cha Bá Đa Lộc (Pierre Pigneaux de Béhaine) còn những người sau đây: Quan phó vệ úy Phan Văn Nhân, Chánh cai cơ Nguyễn Văn Khiêm, 40 binh sĩ và Lm Phaolô Hồ Văn Nghi. Năm 1840 (02/11), Thầy giảng Lê Húc đã được vua Minh Mạng gửi đi làm thông ngôn trong Phái Đoàn Việt Nam do Tư Vụ Trần Viết Xương làm trưởng đoàn, gồm có thư lại Tôn Thất Thường và 2 thông ngôn, mà một là thầy giảng Lê Húc. Phái đoàn đi trên tàu l’Alexandre, cập bến Locmarvaquer, Vannes. Năm 1863, Một linh mục, cha Nguyễn Hoàng, và 1 giáo dân, Ông Trương Vĩnh Ký, đã được vua Tự Đức gửi đi làm thông dịch viên trong phái đoàn Phan Thanh Giản sang Pháp thương thuyết việc chuộc lại 3 tỉnh miền Đông, Nam Việt là: Biên Hòa, Gia Định và Định Tường. Năm 1867, Nguyễn Trường Tộ cùng một số quan chức đáp tàu đi Pháp. Tháng 3 năm đó, ông tới Paris. Rồi đến ngày 15/11/1867, ông soạn văn bản “Tế cấp bát điều”. Tháng 2/1868, về tới Huế, ông được vua Tự Đức tặng thưởng. Năm 1922, Cụ Nguyễn Hữu Bài theo vua Khải Định đi Pháp vận động Pháp trao trả Bắc Kỳ lại cho Triều Đình Huế.

3. Người Công Giáo góp phần mở mang, khai thác bờ cõi đất nước. Bị bắt bớ quá thì người tín hữu trốn vào rừng sâu làm rẫy, nhờ thế mà mở mang bờ cõi đất nước. Với lý lịch “tả đạo“, khó sống ở miền Bắc, tín hữu phải đi vào miền Trung, miền Nam theo đoàn quân viễn chinh và trở thành những người mở đường, dựng nước.

Một số xứ đạo đã được thành lập trong Miền Nam và miền Bắc là do các giáo hữu công giáo chạy trốn cấm đạo và thành lập. Giới thiệu lịch sử Tổng Giáo Phận TP Hồ Chí Minh, ĐHY Phạm Minh Mẫn đã viết: “Đến thế kỷ sau, vào những năm 1641-1645, khi chúa Nguyễn cấm đạo, một số Kitô hữu từ miền Trung di tản vào Nam để làm ăn sinh sống, họ hợp thành những cộng đoàn tín hữu đầu tiên, tập trung tại Chợ Quán, Gia Định, Lái Thiêu, Bến Gỗ, và Long Thành, …” [5]. Thời cấm đạo Minh Mệnh, nhiều giáo xứ khác cũng đã được các giáo hữu công giáo chạy loạn thành lập, như khi “Nhà thờ Chợ Quán bị phá thành bình địa năm 1834, bổn đạo tản về các vìng Gò Vấp, An Nhơn, Xóm Chiếu, hoặc những vùng ở miền Đông, như Đất Đỏ, Tân Triều, Lái Thiêu” [6]. Lịch sử các địa phận Phú Cường và Xuân Lộc đều xác định những sự kiện tượng tự [7]. Ở Miền Bắc, “Vào thời kỳ khai phá gieo Tin Mừng, dân cư miền rừng núi Cao Bằng – Lạng Sơn chưa hề biết tới Đạo Thiên Chúa. Có lẽ người giáo dân đầu tiên tới đây là ông phó Nhậm (phó lý trưởng), con của Thánh Antôn Nguyễn Đích. Ông phó Nhậm bị đày đi xa (phát lưu) lên Cao Bằng vào năm 1858 thời vua Tự Đức. Cũng khoảng năm này, một đại chủng sinh bị phát lưu lên Lạng Sơn tên là Trần Triêm, tức Cụ Sáu Trần Lục. Vào năm 1876, tại Cao Bằng có chừng 300 giáo hữu, phần lớn là những người bị triều đình Huế phát vãng lên đây” [8]. Trên đây chỉ là dăm bảy thí dụ điển hình. Ước mong sao một nghiên cứu đầy đủ hơn sẽ được thực hiện để làm sáng tỏ thêm vấn đề “Người công giáo bị bách đạo, đã góp phần mở mang khai triển bờ cõi quê hương”.

4. Người công giáo góp phần xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật, giáo dục và xã hội. Tiếp nối con đường hội nhập văn hóa mà cha Đắc Lộ đã vạch ra, các cha thừa sai hải ngoại Paris tiếp tục đóng góp rất nhiều vào việc xây dựng và phát triển văn hóa việt nam, trong nhiều lãnh vực khác nhau:

Trong lãnh vực văn học, nhiều sách nghiên cứu về ngôn ngữ việt nam, đặc biệt các tự điển đã được tiếp tục. Tự điển Việt Latinh của Pierre Pigneaux (1772), Latinh Việt của Jean-Louis Taberd (1838), Việt Latinh của Joseph Theurel (1877), Việt Pháp của Jean Génibrel (1898), Tự điển Việt Hoa Pháp của Gustave Hue,… Nhiều sách đạo bằng chữ nôm và chữ quốc ngữ đã được sáng tác, nhiều sách về văn hóa giáo dục bằng chữ quốc ngữ đã được sáng tác (9).

Trong lãnh vực nghệ thuật, đặc biệt là kiến trúc, từ cuối thế kỷ XIX, nhiều cơ sở vững chắc đã được xây cất: Chủng viện Sài Gòn 1861, Ấn quán Tân Định 1864, Nhà Thờ Đức Bà Sài Gòn 1880, Nhà thờ chính tòa Hà Nội 1887, Trường Taberd Sài Gòn 1889, Nhà thờ Phát Diệm 1895, Đền Đức Mẹ Lavang 1900, Trung học Thiên Hựu 1933, … Qua những cơ sở này, chẳng những công giáo đã mang kiến trúc tây phương vào Việt Nam và hội nhập những tiến trình xây dựng theo những chất liệu xây cất và điều kiện môi trường địa phương, mà còn sáng tạo ra những kỹ thuật xây dựng theo nghệ thuật kiến trúc việt nam, qua công trình của cha Trần lục ở quần thể nhà thờ Phát Diệm.

Trong lãnh vực chính trị kinh tế, một sự kiện lịch sử khác, dẫu không thuộc sứ mệnh của giáo hội, nhưng đã được một trong những giám mục thừa sai thực hiện, đó là việc Đức cha Bá Đa Lộc (1741-1799) đã giúp Nguyễn Vương lập nên Nhà Nguyễn và tham chính, làm Đại thần với chức Sư Phó. Ngài đích thân tham gia vào binh đoàn trong cuộc tấn công quân Tây Sơn tiến chiếm và bảo vệ thành Diên Khánh (Nha Trang), 1792-1794 (10).

Trong lãnh vực giáo dục, Nhiều trường đã được thiết lập, mà đầu tiên là các trường chủng viện đào tạo chủng sinh và linh mục đã được thành lập. Cha François Deydier đã lập “chủng viện nổi” ngay năm mới đến Việt Nam, 1666. Tiếp theo đó, nhiều chủng viện khác đã được thành lập: Kiên lao, Kẻ Cốc (1683), Lục Thủy (1686), Kẻ Lò (1697), Lái Thiêu (1789),… Sau đó, là các trường học ngoài đời: từ mẫu giáo, tiểu học, trung học đến đại học. Vào năm 1939, ở Đông Dương, người ta đếm được 1.783 trường công giáo, thâu nhận 121.172 học trò. Vào năm 1967, trong hai giáo tỉnh Huế và Sài Gòn, có 1.406 trường tiểu học qui tụ 311.000 học sinh, 188 trường trung học qui tụ 254.801 học sinh, 1 viện Đại Học Đà Lạt. Năm 1970, mở thêm 2 đại học khác: Viện Đại Học Minh Đức Sài Gòn do Lm Bửu Dưỡng và Viện Đại Học Thành Nhân Sài Gòn do các sư huynh Lasan (11).

Trong lãnh vực xã hội, nhiều cơ sở từ thiện đã được thành lập: trường câm điếc Lái Thiêu lập năm 1866, trại phong Qui Hòa lập năm 1929, …Tiếp theo đó, nhiều cơ sở xã hội khác dần dà đã được giáo hội thành lập, cô nhi viện, bệnh xá, trại cùi, nhà hộ sinh, phòng phát thuốc, viện dưỡng lão,… Năm 1969, trong hai giáo tỉnh Sài Gòn và Huế, có 41 bệnh viện với 7000 giường, 239 trạm phát thuốc, 36 nhà hộ sinh, 9 trại cùi với 2.500 bệnh nhân, 82 cô nhi viện với 11.000 trẻ mồ côi, 29 viện dưỡng lão (12).

Một cách chung, về “Ảnh hưởng của Công giáo với nền văn hóa Việt Nam“, có thể bảo rằng kết luận của tác giả Đinh Kiều Nga là khách quan: “Do vậy, ta không thể phủ nhận được những đóng góp to lớn của đạo Công giáo đối với nền văn hóa dân tộc. Việc ra đời chữ quốc ngữ đã giúp cho người Việt dễ dàng hơn trong việc học tập, giao tiếp và bảo tồn những dữ liệu dưới dạng văn bản. Đồng thời khi đạo Công giáo vào Việt Nam cũng đã mang theo nhiều yếu tố văn hóa phương Tây du nhập vào, làm cho văn hóa Việt Nam trở nên phong phú hơn, phát triển thêm nhiều loại hình văn hóa nghệ thuật mới. Cho đến nay đạo Công giáo đã có được một nền móng tương đối vững chắc nhờ từng bước hội nhập vào trong văn hoá Việt Nam theo đánh giá của các nhà khoa học về tôn giáo này” [13].

B. Trên bình diện Văn Hóa tôn giáo, Các Thánh Tử Đạo đã thăng hoa Văn Hóa Việt Nam. Đạo Công Giáo đã đáp ứng những nhu cầu tinh thần và thiêng liêng sâu xa của con người, mà Khổng Giáo, một quốc giáo Việt Nam trong các thế kỷ XVII đến XX, đã tránh né không trả lời [14]. Những nhu cầu này mãnh lệt và mạnh mẽ vô cùng. Chúng có sức rời non, lấp bể, có thể làm cho các tín hữu dám hy sinh mạng sống mình. Đó là điều mà các vị tử đạo Công Giáo đã chứng minh bằng giá máu của mình, đặc biệt là 117 thánh tử đạo, trong đó có cha Năm, ông trùm Đích và ông lý Mỹ. Các Thánh tử đạo không chỉ giữ gìn, thực hiện và sống Văn Hóa Việt Nam, các ngài còn làm cho Văn Hóa Việt Nam vươn cao hơn, thăng tiến hơn, tinh tuyền hơn; đem cho chúng cái giá trị thiêng liêng, đại đồng, vĩnh hằng. Nhiều thăng hoa đã được các Thánh Tử Đạo đưa đến cho Văn Hóa Việt Nam. Nhưng trong văn hóa cương thường Khổng Giáo độc tôn của Việt Nam, hai thăng hoa lớn nhất mà công giáo đã góp vào Văn Hóa Việt Nam là thăng hoa tam cương và thêm tầng thiêng liêng vào tầng nhân bản luân thưởng Khổng Mạnh.

1. Cùng với tất cả 117 thánh tử đạo Việt Nam, cha Năm, ông trùm Đích và ông lý Mỹ đã thăng hoa Văn Hóa tam cang Việt Nam bằng hai bước: trở về nguồn Khổng Mạnh lấy ngũ luân thay tam cang, rồi tiến lên bước thần học tam phụ, sát nhập đạo hiếu vào giới răn thứ tư thảo kính cha mẹ. Được Thánh kinh soi sáng về sự tự do và bình đẳng của nhân quyền, phải nói thật rằng người công giáo đã không xác tín về tam cang Khổng Giáo. Trong Phúc Âm Mátthêu, 6, 7-13, Chúa Giêsu đã dậy các môn đệ cầu nguyện với cha của mình là Đức Chúa Cha: “Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại; họnghĩ rằng: cứ nói nhiều là được nhậm lời. Ðừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin. Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này: Lạy Cha chúng con là Ðấng ngự trên trời, xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển, triều đại Cha mau đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày; xin tha tội cho chúng con nhưchúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con; xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em“. Như vậy, tất cả mọi người đều là con Thiên Chúa, như Thánh Gioan đã viết trong thơ I của ngài: “Anh em hãy xem, Chúa Cha yêu chúng ta dường nào. Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa“. (1Ga 3, 1). Hệ luận là tất cả chúng ta đều tự do và bình đẳng như nhau.

Thật ra không chỉ người Công Giáo đã thấy sự áp bức bất bình đẳng của tam cang. Nhiều kẻ sĩ Việt Nam đã thấy điều đó. Học giả Phan Khôi đã nhận định như sau về tam cang: “Nhà nho đời xưa có bày ra cái thuyết tam cang, cái thuyết đã làm nền móng cho xã hội ta hơn ngàn năm nay, ý cốt của nó là chỉ để tôn quyền quân chủ, lợi cho sự cai trị mà thôi. Do nó mà thành ra cái chế độ gia đình của xứ ta, do nó mà trong gia đình mới có sự áp bách quá thảm hại.

Quân vi thần cang; phụ vi tử cang; phu vi thê cang. Cang thứ nhứt là nói về quốc gia xã hội; trong một nước, phải coi ông vua là có quyền vô thượng rồi, nhưng chưa đủ, phải thêm cang thứ nhì và thứ ba. Hai cang sau thì nói về gia đình; trong một nhà, lại phải coi cha và chồng cũng có quyền vô thượng nữa. Như vậy để làm gì? Tôi phải phục bọn Hán nho đã vắt bao nhiêu não tủy mà lập ra cái thuyết nầy rất khéo! Làm như vậy là có ý bắt kẻ làm cha làm chồng phải đè đầu con cái và vợ của mình, hầu để giữ giùm cuộc trị an cho nhà vua, chớ chẳng còn có ý nghĩa gì cao thâm hơn nữa hết. ấy luân lý của ta là vậy đó! Cái thứ quốc túy mà có nhiều kẻ đương lo bảo tồn là vậy đó [15]!

Đối với người công giáo, hẳn thật ngũ luân thì thích hợp hơn là tam cương.Ngũ luân tức là: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu phụ (chồng vợ), huynh đệ (anh em), bằng hữu (bầu bạn). Ngũ là năm, luân là đấng bậc; ngũ luân là một cái tổng cương trong luân lý, như là cái giấy giao kèo để buộc năm đấng bậc ấy phải ở với nhau cách nào. Bởi vì tóm hết thảy người trong xã hội mà chia ra, chẳng qua có năm đấng bậc ấy; mà mỗi một đấng bậc có hai bên đối nhau, thì bên nầy phải có cách đối với bên kia, hầu cho hết bổn phận mình.

Khổng Mạnh khi nào nói đến ngũ luân đều là để phát huy cái ý ấy. Sách Trung dung, chương XX, Khổng Tử nói rằng: Vua tôi, cha con, chồng vợ, anh em, bầu bạn: năm điều ấy là cái đạo thông hành của thiên hạ vậy. ở sách Luận ngữ, thiên Nhan Uyên, ngài đáp lời Tề Cảnh Công hỏi mà nói rằng: Vua phải đạo vua; tôi phải đạo tôi; cha phải đạo cha; con phải đạo con. Sách Đại học, chương III, khi nói về Văn Vương, ngài nói rằng: Làm vua người, đỗ ở nhân; làm tôi người, đỗ ở kính; làm con người, đỗ ở hiếu; làm cha người, đỗ ở từ; giao với người trong nước, đỗ ở tín. Lại ở sách Luận ngữ, thiên Bát Dật, đáp lời Định Công hỏi, ngài nói rằng: Vua lấy lễ khiến tôi; tôi lấy lễ thờ vua. Còn Mạnh Tử, ở thiên Đằng Văn công thượng trong sách ngài, ngài cũng nói rằng: Cha con có tình thân; vua tôi có nghĩa; chồng vợ có biệt; kẻ lớn trẻ con có thứ; bậu bạn có tín….

Nói về ba luân vua tôi, cha con, chồng vợ, là ba cái đấng bậc mà danh phận huyễn thù nhau hơn hai cái kia, Thánh Hiền cũng chưa hề nâng một bên nào lên, hạ một bên nào xuống. Đọc hết thảy kinh truyện, những lời chính miệng Khổng Mạnh nói ra, không hề có một lời nào nâng cao người làm vua, làm cha, làm chồng lên, mà đè ẹp người làm tôi, làm con, làm vợ xuống bao giờ. Nhưng, trái lại, trong sách Hiếu kinh lại có dạy rằng: Quân hữu tránh thần, phụ hữu tránh tử, nghĩa là: Vua, nhờ có bầy tôi hay can gián; cha, nhờ có con cái hay can gián. Câu ấy tỏ ra rằng khi người làm vua làm cha không hết bổn phận mình, bầy tôi và con cái có quyền được xét nét. Cái bổn ý của Khổng Mạnh về luân lý là như vậy đó thì làm sao nẩy sanh được tam cang? Cho nên cái thuyết tam cang, hồi đời Khổng Mạnh chưa có, mà trước và sau kề đó cũng chưa có» [16].

Vì, như lời thầy Mạnh Tử, “Cha con có tình thân; vua tôi có nghĩa; chồng vợ có biệt; kẻ lớn trẻ con có thứ; bầu bạn có tín”, thứ tự, trước nhất không phải là vua tôi, nhưng là cha con. Điều đó có nghĩa là việc nhân luân phải đi từ gần tới xa, từ cha đến vua, từ hiếu đến trung, từ thân đến nghĩa.

Cha Năm, ông trùm Đích và ông lý Mỹ, cũng như tất cả cac thánh tử đạo khác, thấy vua bất nhân, bất nghĩa đi giết người lành, vô tội và lương thiện, chỉ vì họ là công giáo, đã áp dụng nguyên tắc “quân hữu tránh thần” của luân vua tôi để can ngăn vua quan một cách hiền lành và bất bạo động của bậc thánh nhân, bằng cách nhận cái chết một cách vui vẻ, không than trách, mong rằng vua sẽ hiểu ra. Nhưng cơn oán giận, bực tức của các vua quan đã quá mạnh, khiến họ không còn tự chủ được mình, lòng kiêu căng thúc đẩy thêm, họ đã không còn bình tĩnh và khôn ngoan tối thiểu để nhìn ra lẽ phải. Biết nói thế nào được! Ngay đến chính di chúc “không được phép bách hại đạo” trăn trối của cha ruột mình là vua Gia Long, và lời khuyên của mẹ ruột mình “đừng bách đạo“, mà vua Minh Mệnh cũng còn chẳng nghe!

Một số các vị tử đạo còn muốn thăng hoa văn hóa tam cang và ngũ luân thêm một bậc nữa, lồng “cang quân thần” vào “cang tam phụ” của đạo hiếu. Cuộc đối đáp giữa quan tòa và cha Phêrô Nguyễn Văn Tự, dòng Đa Minh, bị bắt ngày 29-6-1838 và bị xử trảm ngày 5-9-1838 dưới thời Minh Mệnh cho thấy cha Tự hiểu sâu xa thần học Tam Phụ [17], mà các vị truyền giáo đã giảng dạy cho tín hữu Việt Nam, bất đầu từ cha Đắc Lộ, qua kinh bổn và các sách giáo lý ‘’Chân đạo yếu lý’’ và ‘’Chơn đạo dẫn giải’’.

Cha Tự bị điệu ra đầu tiên, một trong những quan tòa hỏi cha: “Cha có biết là đức vua rất thương hại cha không? Cha chỉ việc bước qua thập giá là vua sẽ khoan hồng đại lượng với cha. Vì cha vẫn còn trẻ (43 tuổi) hơn nữa cha mới từ miền Nam tới, nên chúng tôi rất buồn nếu phải xử án tử cho cha. Vậy cha nghĩ sao?” Cha Tự trả lời: “Tôi rất kính trọng đức vua nhưng đồng thời xin quan cứ việc xử tôi như người theo đạo Thiên Chúa. Vì Ngài là Chúa cả trời đất nên tôi phải thờ lạy, nếu vua cho phép tôi được sống, tôi hết lòng đa tạ, bằng không nếu vua muốn xử án chết, tôi xin tuân theo, còn ngoài ra với bất cứ giá nào tôi không thể làm theo ý vua”. – “Thôi, đủ rồi! Tôi đã quyết định rồi cha không phải bị hành khổ nữa!”

Cha Tự lại bắt đầu cầu nguyện càng sốt sắng hơn để xin Chúa duy trì đức tin cho hai thầy giảng và bốn giáo hữu. Theo lời tường thuật của Giám Mục Marti, để dụ dỗ cha quá khóa, ngày 19-8-1838 quan mời cha ngồi chiếu hoa và đàm đạo về giáo lý. Cha gợi truyện với quan: – “Tôi luôn tôn kính ba cha”.- “Ba cha nào?”- “Thiên Chúa là Cha trên trời, là Chúa Tể, là Vua, và cha dưới trần là đức vua, và cha thấp hơn nữa là cha của tôi”. – “Tốt lắm, nhưng cha hãy nghĩ lại đi, nếu vua là cha thay Chúa, Ngài truyền cho cha phải bước qua thập giá mà cha không vâng lời, vậy cha không làm vua phật ý sao?” – “Không phải vậy, khi vua và cha tôi truyền cho tôi làm điều xấu như đạp qua thánh giá là dấu chỉ của Cha trên trời làm sao tôi có thể theo được?”

Rồi hai người vẫn tiếp tục truyện trò: “Tại sao cha không thờ cúng cha mẹ tổ tiên?” – “Khi cha mẹ tôi còn sống tôi rất mực trọng kính các người, tôi lo lắng và săn sóc chu đáo, nhưng khi các ngài chết, các ngài không còn ăn uống nữa vì linh hồn là thiêng liêng không cần gì nữa. Cha mẹ của quan đã mất, mà quan vẫn còn thờ cúng chuối oản như là các ngài còn sống, nếu các ngài ăn được, các ngài đã dùng rồi. Còn như vàng bạc tiền nong gửi cho họ bằng cách đốt đi, nếu giả như họ dùng được tại sao quan lại không đốt vàng thật hay tiền thật? Làm vậy không phải là một trò diễu cợt người chết ư?” [18]

Nghe cha Tự cắt nghĩa về thần học tam phụ như vậy, thì ai còn có thể bảo được rằng người công giáo không thờ cúng cha mẹ tổ tiên, không trung thứ với vua quan? Trong mười điều răn đạo Đức Chúa Trời, điều răn thứ bốn dậy “Thảo kính cha mẹ”; Nhưng điều răn thứ nhất dạy “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”.

2. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, trong đó có Cha Năm, ông Trùm Đích, ông Lý Mỹ, đã lắp thêm tầng thiêng liêng Công Giáo lên tầng nhân bản Khổng Giáo: Thêm vào ngũ luân ngũ thường, Ba thánh mang vào Tin, Cậy, Mến; Thêm vào Tam đa Ngũ phúc, Ba thánh mang vào Tám mối phúc thật. Những khái niệm luân lý chính của Khổng Tử về ngũ luân, ngũ thường đã được trình bày trên đây. Những khái niệm này không xa với những khái niệm nhân đức công giáo ở mức độ nhân bản là bao nhiêu. Đó là Năm nhân đức đối nhân, là những đức tính nhân bản, những xu hướng bền vững, dẫn đến thái độ kiên định và thói quen hướng thiện của lý trí và ý chí; nhờ đó con người điều chỉnh các hành vi và cách sống của mình theo lý trí và đức tin. Có năm đức tính đối nhân: bác ái, khôn ngoan, công bình, can đảm và tiết độ. Thêm vào đó, Công Giáo đặc biệt chú trọng đến ba nhân đức đối thần, là những nhân đức quy chiếu trực tiếp về Thiên Chúa như căn nguyên, động lực và là đối tượng. Ba nhân đức này không được Khổng Giáo biết đến. Nhưng đối với Công giáo, các nhân đức đối thần là nền tảng và linh hồn của toàn bộ đời sống luân lý. Thiên Chúa ban cho ta những nhân đức nầy, để ta có khả năng hành động như con cái Thiên Chúa và đáng hưởng sự sống đời đời. Ba nhân đức đối thần là Tin, Cậy Mến. Đức Tin là một nhân đức nhờ đó ta tin vào Thiên Chúa, tin tất cả những gì Người nói và mặc khải, cũng như những gì Hội Thánh dạy ta phải tin. Đức Cậy đặt hết niềm tin vào một đối tượng, cậy nhờ đối tượng ấy trợ giúp để hoàn thành một tâm nguyện đạt đến cứu cánh vĩnh cửu. Đối tượng duy nhất để cậy nhờ ở đây là Đức Kitô, sự trợ giúp là Chúa Thánh Thần, và cứu cánh chính là hạnh phúc Nước Trời. Đức mến là nền tảng Kitô giáo, là đức yêu thương không bờ bến, không giới hạn nhằm đến 2 đối tượng chính yếu: Thiên Chúa và con người: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là: ngươi phải yêu người thân cận như chính mình”(Mt 22, 37-39).

Trong văn hóa sống thường ngày của người Việt Nam, ba cái nhiều là nhiều con, nhiều cháu, nhiều giầu có và năm cái phúc là được giầu có, được sang trọng, được sống lâu, được khỏe mạnh, và được bình an. Công giáo không chối bỏ tam đa ngũ phúc, nhưng đặc biệt quan tâm đến tám mối phúc thật, như lời giảng của Đức Giêsu Kitô rằng: “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì nước trời là của họ. Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Nước làm cơ nghiệp. Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ. Phúc cho các con khi ngưới ta ghen ghét, bách hại các con và bởi ghét Thày, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời” (Mt, 5, 1-12).

117 Thánh Tử Đạo, trong đó có Cha Năm, ông trùm Đích và ông Lý Mỹ đã vượt trên tam đa, ngũ phúc vật chất ở đời này để vui mừng hân hoan đón nhận bị giết hại vì danh Chúa Giêsu, chẳng những đã đốt sáng ngũ luân, ngũ thường, mà còn hơn nữa, đã thăng hoa chúng, đưa chúng đến đức tin, đức cậy và đức mến, và dám dâng mạng sống mình để làm chứng về Chúa Giêsu. Tất cả 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam đều hiểu biết và thấm nhuần tám mối phúc thật Chúa Giêsu giảng dậy. Các ngài tất cả đều đã tin vào đạo thật và vui vẻ làm chứng cho đạo thật. Không đi tìm cái chết, không tự sát, tự thiêu, vì đó là phạm giới răn thứ năm “Chớ giết người“. Nhưng nếu bị những quan quyền cấm đoán, bách hại, thì sẵn sàng chấp nhận làm chứng điều mình tin, và vào những phúc thật.

Thánh Martinô Thọ, người thu thuế, trả lời quan: “Dù quan có giết vợ con tôi, tôi cũng chẳng quá khóa bỏ mất phúc thiên đàng. Vì tôi mong ước phúc thiên đàng cho nên tôi mới vui lòng chịu khổ như thế này. Bị bắt ngày 30.5.1840 về tội chứa chấp Cha Ngân, và bị xử trảm ngày 8.11.1840, khi nghe tin ông Lý Mỹ, ông binh Ðạt và Huy được chịu chết vì đạo, ông Thọ cũng ước ao được chịu chết vì đạo như vậy. Ông đến Kẻ Vĩnh viếng xác ông Lý Mỹ và ông trùm Ðích. Về nhà ông bảo vợ con: “Nếu Ðức Chúa Trời có định cho tôi bị bắt và chịu khó vì đạo như hai ông ấy thì mọi người hãy bằng lòng, dù có mất của cũng đừng phàn nàn. Nếu chúng con bị bắt thì cũng phải xưng đạo cho mạnh mẽ“. Khi bị bắt và bị giam tạm tại Trại Lá, sau khi bị tra hỏi các ngài được chuyển sang trại tù. Mấy người con của ông Thọ được phép đến thăm mấy lần. Ông khuyên các con của ông: “Thiên Chúa nhân lành định rằng cha không còn về với các con nữa, nhưng các con còn có mẹ, hãy vâng lời mẹ. Các anh chị lớn hãy lo đùm bọc các em nhỏ, các con nhỏ chịu khó vâng lời. Hãy can đảm làm việc chăm chỉ để phụng dưỡng mẹ, hãy trung thành đọc các kinh sáng kinh chiều và lần hạt. Thiên Chúa ban cho mỗi người một thánh giá, các con hãy vui lòng vác lấy và can đảm chịu khổ để giữ đạo. Cha không còn làm gì để giúp các con dưới trần này được nữa, cha chỉ còn lo sửa soạn ra đi, vậy sau khi cha chết rồi, chú Chấn và mẹ các con chết rồi, thì hãy chia nhau tài sản. Nếu sau này được phép, các con mang xác cha về chôn nơi cha bị bắt. Những gì cha đã làm cho các anh chị lớn khi còn ở nhà thì các anh chị lớn cũng phải làm như thế cho các em nhỏ“. Sau nhiều đánh đập và tra khảo không xong, Tổng Đốc Trịnh Quang Khanh lại dụ dỗ ông đạp ảnh để được về nhà lo lắng cho vợ con, ông Thọ thưa: “Cửa nhà và vợ con tôi là của Ðức Chúa Trời, tôi chẳng có gì, chẳng tiếc gì. Tôi xin quan lớn cho tôi một lát gươm mà thôi”. -”Nếu tao bắt được vợ con mày và làm khổ trước mặt, mày có bỏ đạo không?” – “Dù quan có giết vợ con tôi, tôi cũng chẳng quá khóa bỏ mất phúc thiên đàng”. “Vậy mày ước ao thiên đàng lắm hả?” – “Bẩm ông lớn, vì tôi mong ước phúc thiên đàng cho nên tôi mới vui lòng chịu khổ như thế này. Khi nào quan lớn thương cho tôi một lát gươm, bấy giờ linh hồn tôi sẽ bay thẳng lên Trời”.

Quan Micae Hồ Ðình Hy trả lời cho các quan rằng “không bỏ đạo và cho tới hôm nay tôi vẫn cương quyết giữ đạo“. Một người làm quan lớn lại có lòng thống hối như quan thái bộc Hồ Ðình Hy đã để lại một tấm gương thánh thiện và hết lòng vì đạo cho đến giọt máu cuối cùng. Ngài thường nói với vợ: “Tôi đầy rẫy những tội lỗi, dù nước sông nước nguồn có từ khắp nơi chảy về cũng chẳng đủ rửa tội tôi cho sạch. Tôi phải đổ máu ra mà rửa tội tôi thì cũng còn sợ chẳng biết cân xứng không“. Có một quan tên là Phạm Y đến lãnh vải nơi quan thái bộc Hy, đòi cho được thứ vải tốt vượt mức phẩm hàm nên bị từ chối, ông để lòng hiềm thù, họp bàn với mấy quan khác để tìm cách hãm hại quan Hồ Ðình Hy. Ngày 8-11-1856, các quan này dâng sớ tố cáo quan thái bộc với vua Tự Ðức và quan Hồ Đình Hy đã bị bắt ngay. Ngày hôm sau, 9-11, các quan chính thức tra xét và bắt ngài làm lời khai. Ngài khai như sau: “Tôi 53 tuổi, người làng Nhu Lâm. Cha mẹ có đạo, đã cho tôi đi học chữ Nho từ thuở nhỏ. Năm Minh Mệnh thứ bẩy (1826), tôi được vào làm trong Bộ Công giúp việc nhà nước ba mươi mốt năm, sau được Vua thương ban quan tước tam phẩm, tước thái bộc giúp việc nhà Vuạ Ðạo cha ông tôi vẫn giữ trong lòng. Năm ngoái có sắc lệnh Vua cấm, tôi giả đò bề ngoài để che dấu, nhưng thực sự không bỏ đạo và cho tới hôm nay tôi vẫn cương quyết giữ đạo“. Và ngài vẫn giữ một lòng trung dũng sắt đá như vậy. Tới ngày 22-5-1857 là ngày xử nhưng không quan nào nhận trách nhiệm, mãi đến trưa mới có quan chịu dẫn 100 lính đem ra chợ An Hòa xử tử ngài. Mới nghe tiếng chiêng trống ngài sợ hãi toát mồ hôi nhưng rồi trấn tĩnh lại. Theo qui ước hễ thấy ngài làm dấu thì linh mục ở giữa đám đông sẽ ban phép giải tội, bởi vậy cứ thỉnh thoảng ngài lại làm dấu để mong cha trông thấy. Dân chúng theo sau thì thầm: “Nào người này có phạm tội gì đâu, không trộm cắp hay bớt xén công quĩ, thật chỉ vì giữ đạo Thiên Chúa mà phải khổ sở”.

Cha Philipphê Phan Văn Minh đã trối với giáo dân: “Thiên Chúa muốn tôi dâng sự sống cho Ngài để đạo thánh được rạng rỡ, tôi vui mừng vâng theo ý Chúa”. Năm 1848 Tự Ðức ra lệnh cấm đạo đầu tiên và buông sông các thừa sai nếu bắt được. Và năm 1851 ra lệnh nghiêm ngặt hơn cho các tổng đốc phải tận diệt đạo Kitô. Bị bắt ngày thứ Bảy, 26-2-1852, Cha Minh bị giải đến Vĩnh Long. Quan Tổng Đốc dụ dỗ nhiều cách. Khi thì dụ quá khóa để làm quan, hay làm thuốc. Cha trả lời: “Không có lẽ nào tôi quá khóa. Tôi dậy dỗ bổn đạo mà người ta còn chẳng dám làm điều quái gở ấy phương chi là tôi. Quan bắt giết thế nào thì tôi xin chịu”. Khi lại nói không cần phải đạp ảnh, chỉ cần nói là xuất giáo thì cũng tha. Cha Minh đáp lại: “Tôi làm như thế cũng không được vì phạm tội phản bội cùng Chúa, cùng các thầy dậy và là người láo xược. Là giáo trưởng mà nói rằng mình không phải là giáo trưởng là lừa dối mọi người”. Lúc khác lại dụ cha khai rằng các đồ đạo là của đạo trưởng Tây giao cho giữ và như thế các quan có thể tha mà không sợ lỗi lệnh vua. Cha Minh một mực thưa: “Xin các quan xét cho tôi, tôi không thể khai dối trá được. Các quan có làm án chém tôi thì tôi sẵn lòng, còn khai theo lời quan dậy thì không dám”. Dụ cách nào cũng không được, các quan họp nhau làm bản án cho Cha Minh phải lưu đầy Sơn Tây. Nhưng Nội các xem án của các quan tỉnh Vĩnh Long thì không ưng, biện luận rằng: “Ðạo trưởng ấy đã đi Tây từ thuở bé và lâu năm ăn học bên ấy nên đã thấm nhập với Tây, lại là đạo trưởng nên phải kể là Tây dương đạo trưởng. Vậy phải sửa án là trảm quyết quăng đầu xuống sông”. Bản án của triều đình về tới tỉnh Vĩnh Long tối thứ Bẩy 2-7. Và sáng hôm sau, Chúa Nhật lễ kính Máu Thánh Chúa Giêsu, quan tổng đốc cho lệnh xử ngài. Trước khi bị dẫn ra pháp trường, cha an ủi các quí chức còn bị giam: “Anh em yêu dấu, Thiên Chúa muốn tôi dâng sự sống cho Ngài để đạo thánh được rạng rỡ, tôi vui mừng vâng theo ý Chúa. Trước khi lìa xa anh em, tôi xin anh em dù phải khốn khổ thế nào mặc lòng hãy trung thành bền đỗ trong đức tin, trông cậy vào Chúa giúp sức thì Ngài chẳng bỏ anh em”.

KẾT LUẬN

Để kết luận bài viết nhỏ này, trước nhất chúng ta hãy tóm tắt những điều đã trình bày. Nhờ cách ứng xử của 117 thánh tử đạo Việt Nam và của trăm, ngàn, vạn, triệu người Công Giáo Việt Nam khác, Văn Hóa Việt Nam, từ thế kỷ XVII, đã có thêm tầng tạo hình thứ năm, đó là tầng Thiên Chúa Giáo: Trên bình diện tổng quát, người Việt Nam Công Giáo đã góp phần mình rất nhiều cho tổ quốc. Trốn chạy bách đạo, họ đã lên rừng làm dẫy, chạy vào Trung, Nam, họ đã mở mang, khai thác bờ cõi đất nước; Một số giáo sĩ, trí thức công giáo đã góp phần tham dự các phái đoàn thương thuyết bảo vệ Tổ Quốc; Một số khác đã góp phần khai sáng ra chữ quốc ngữ, góp phần phát triển văn học nghệ thuật nước nhà. Trên bình diện Văn Hóa tôn giáo, các thánh tử đạo Việt Nam đã thăng hoa tam cương bằng hai bước: trở về nguốn Khổng Mạnh, lấy ngũ luân thay tam cương, rồi tiến lên bước “thần học tam phụ“. Và một cách tổng quát, các ngài đã xây thêm tầng thiêng liêng trên tầng nhân bản luân thường Khổng Mạnh, bằng cách mang Tin, Cậy, Mến vào ngũ luân ngũ thường, và mang tám mối phúc thật vào tam đa ngũ phúc. Như vậy, các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã làm cho Văn Hóa Việt Nam vươn lên cao hơn, thăng tiến hơn, tinh tuyền hơn, đem cho nó cái giá trị thiêng liêng, đại đồng, vĩnh hằng.

Kết luận bài giảng ngày tuyên phong Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 19.6.1988, ĐTC Gioan Phaolô II đã gừi tới người Việt Nam lời cuối cùng này: “Anh em: dòng giống các vị Tử Đạo! Anh em: dòng giống những người được kén chọn. Anh em hãy nghe hết lời sách Khôn Ngoan: “Trong ngày phán xét họ sẽ long lanh như những tia sáng chiếu trên đồng cỏ từ đông sang tây (3:7). Những tia sáng, những ánh đèn phản chiếu nguồn quang minh rực rỡ. Và đây là câu sau cùng trong sách Khôn Ngoan: “Các dân tộc sẽ trị vì, họ cai trị dân chúng. Nhưng trên hết tất cả, Thiên Chúa sẽ thống trị mọi loài” (3:8). Chúa đây, tức là Chúa Kitô tử nạn và phục sinh, ngài xuống trần gian “không để xét xử thế giới, nhưng để thế giới nhờ ngài mà được cứu rỗi” (Gioan 3:17). Chính Chúa Kitô này: anh em đã tham gia vào cuộc thống khổ và tử nạn thập giá của ngài, hôm nay anh em hãy tham gia vào việc cứu rỗi trần gian mà chính ngài đã kết liễu. Nguyện chúc cho mùa lúa vàng của anh em muôn năm tồn tại trong hoan lạc”.

Mùa lúa vàng là kết quả của những lao khổ. Các thánh tử đạo Việt Nam đã “rao giảng Chúa Giêsu tử nạn thập giá” (I Cor 1:23), đã chẳng những không từ bỏ mà còn đốt sáng thăng hoa Văn Hóa Việt Nam. Đã mang vào đó những giá trị trường cửu, đại đồng và thiêng liêng, đã đáp ứng những khát vọng tuyệt đối của con người, những nhu cầu tin, cậy, mến vào một Chúa Trời. Đó là lý do khiến 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam vui vẻ ra pháp trường “lãnh nhận phúc tử vì đạo“. Đó cũng là lý do sâu xa giải thích tại sao, xưa cũng như nay, người Việt Nam gia nhập đạo Công Giáo. Quả thật “Máu các Tử Đạo là hạt giống sinh nhiều tín hữu”!

Về Lộ-Đức, các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam đã nghe lời mời của các tuyên úy để ” MỪNG 25 NĂM TUYÊN PHONG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT-NAM – SỐNG ĐỨC TIN THEO GƯƠNG TIỀN NHÂN “.

Người tín hữu nặng tình, yêu quê hương, yêu đất nước, yêu dân tộc, không khỏi cảm kích nhìn ra gương thăng hoa văn hóa Việt Nam của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Chắc chắn họ sẽ cầu xin, để gương lành này được dãi tỏa nơi tín hữu và lương dân Việt Nam. “Chớ gì ngày lễ tạ ơn dịp kỷ niệm 25 năm các Tổ tiên Tử đạo của chúng ta được Giáo Hội tôn phong lên bậc Hiển Thánh nhắc nhớ mọi người chúng ta quyết noi gương các Ngài, để sống xứng đáng là những người “con thảo của Cha trên trời, là chứng nhân anh dũng của Đức Kitô, là thành phần trung kiên của Hội Thánh” (Kinh các Thánh Tử Đạo Việt Nam) [19].

Chắc chắn họ sẽ theo lời xướng của Cha Tổng Tuyên Úy Nguyễn Kim Sang, mà hát bài thánh ca “Đây Bài Ca Ngàn Trùng” và “Nguyện xin các Thánh Tử-Đạo Việt-Nam cầu bàu và phù giúp chúng ta luôn trung thành với niềm tin và biết noi gương các Ngài đễ minh chứng cho Tình yêu của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, dù phải gặp những khổ giá của cuộc đời” [20].

Paris, ngày 31 tháng 07 năm 2013
Trần Văn Cảnh

Ghi chú

(1). Trần Văn Cảnh, “Mừng 25 năm tuyên phong các Thánh Tử Đạo Việt Nam 1988-2013″, đọc lại “Lịch sử Công Giáo Việt Nam bị cấm và bách hại “, Bài 4: Gương đốt sáng văn hóa Việt Nam của các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/113174.htm

(2). Đỗ Quang Chính, Lịch sử chữ quốc ngữ 1620-1659, Ra khơi: Sài gòn 1972, tr. 5

(3). Trần Văn Cảnh, Chữ quốc ngữ đã được công giáo khai sinh năm 1651; Nguồn: http://www.vanchuongviet.org/index.php?comp=tacpham&action=detail&id=12495

(4). Xin xem Phạm Thế Ngũ, Việt Nam Văn Học Sử giản ước tân biên, tập 3: Văn học hiện đại 1862-1945.

(5). Gioan B. Phạm Minh Mẫn: Kỷ niệm 350 năm ngày thiết lập Giáo hội tại Việt Nam; 9.9.2009; Nguồn: http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20091109/2978#0

(6). Văn Phòng Tổng Thư Ký Hội Đồng Giám Mục Việt Nam; Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, Niên giám 2004; Hà Nội, NXB Tôn Giáo, 2004, tr. 693

(7). Ibid., tr. 812-813; 825

(8). Ibid. tr. 601.

(9) (Trần Văn Cảnh, Triển lãm “Các Sở Thừa Sai Hải Ngoại Paris ở Á Châu: 350 năm lịch sử và mạo hiểm”, Nguồn: http://www.conggiaovietnam.net/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=13&ia=632).

(10) Trần Trọng Kim, Việt Nam Sử Lược, Q. II, tr. 154.

(11) Lange, Claude: Ecole catholique et Mission de l’Eglise au Vietnam (1860-1975), trong Echos de la rue du Bac, n°237, mars 1989, tr. 88-96)

(12) Linh mục nguyệt san, số 105; 1970, tr. 618-619)

(13). Đinh Kiều Nga, Ảnh hưởng của Công giáo với nền văn hóa Việt Nam; Nguồn:http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/3171/

(14). Tử Cống viết: “Phu tử chi văn chương, khả đắc nhi văn dã, phu tử chi ngôn tính dữ thiên đạo, bất khả đắc nhi văn dã”. Dịch. – Tử Cống nói: “Công trình nghiên cứu về văn hóa (như Thi, Thư, Lễ, Nhạc) của thầy (tức Khổng tử) thì chúng ta được nghe, còn quan niệm về thiên tính và đạo trời của thầy thì chúng ta không được nghe” (Luận Ngữ, Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, V.12). Phàn Trì vấn trí. Tử viết: “Vụ nhân chi nghĩa, kính quỉ thần nhi viễn chi, khả vị trí hĩ”. Vấn nhân. Viết: “Nhân giả tiên nan nhi hậu hoạch, khả vị nhân hĩ”. Dịch. – Phàn Trì hỏi thế nào là trí (sáng suốt). Khổng tử đáp: “Chuyên tâm làm việc nghĩa giúp người, kính trọng quỉ thần nhưng tránh xa, như vậy có thể gọi là trí” (Ibid., VI.20)

(15). Phan Khôi: Gia đình ở xứ ta, nay cũng đã thành ra vấn đề rồi; in: Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 83 (21.5.1931).

(16). Phan Khôi: Cái chế độ gia đình nước ta đem gióng với luân lý của Khổng Mạnh; In: Phụ nữ tân văn, Sài Gòn, số 85 (4.6.1931)

(17). Xin xem Trần Văn Toàn, BÀN VỀ THUYẾT ‘’TAM PHỤ’’ TRONG ĐẠO THIÊN CHÚA, MỘT BƯỚC ĐI VÀO VĂN HÓA VIỆT NAM, Nguồn: http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=57&ia=363

(18). Vũ Thành: Dòng máu anh hùng, tập 2; Franklin: Phong trào Thanh Sinh Công tại Hoa Kỳ; 1987; tr. 221-225

(19). TGM Phêrô Nguyễn văn Nhơn, Thơ mục vụ nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày tôn phong 117 Hiển Thánh Tử đạo Việt Nam; 01/06/2013; Nguồn: http://www.tonggiaophanhanoi.org/tin-tuc/tin-giao-hoi-viet-nam/5656-thu-muc-vu-nhan-dip-ky-niem-25-nam-ngay-ton-phong-117-hien-thanh-tu-dao-viet-nam

(20). Lm Gilbert Nguyễn Kim Sang, Lời ngỏ; trong “Mừng 25 năm tuyên phong các Thánh Tử Đạo Việt Nam, Sống Đức Tin theo gương tiền nhân; Lộ Đức, 02-04/08/2013; tr. 5


Bài 6: Cộng sản quản lý Công Giáo Việt Nam hay công giáo Việt Nam đối thoại với Cộng Sản?

Từ ngày vào Việt Nam năm 1533 đến nay, lịch sử Công Giáo Việt Nam đã tiến triển qua ba thời kỳ: Bảo Trợ (1533-1659), Tông Tòa (1659-1960) và Chính Tòa (1960-hôm nay) [1]. Thời kỳ Chính Tòa khởi đầu với ngày 24/11/1960, khi Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. Trong lịch sử Việt Nam, ngày này thuộc về giai đoạn lịch sử Hiện Đại, khởi đầu vào năm 1945, khi vua Bảo Đại (1926-1945), vị vua cuối cùng nhà Nguyễn, tuyên bố thoái vị ngày 30/08/1945, mở màn cho một thời kỳ mới, thời kỳ độc lập, với việc thành lập Chính phủ lâm thời (Hồ Chí Minh), Tuyên Ngôn Độc Lập và tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 02/09/1945. Nhưng tháng tám năm 1945 khi Nhật tuyên bố đầu hàng phe Đồng Minh thì Pháp xúc tiến việc tái chiếm Đông Dương và lập lại Liên bang Đông Dương, tạo nên một cuộc chiến tranh mới, gọi là Chiến Tranh Đông Dương, cũng gọi là Kháng chiến chống Pháp, khởi đầu ngày 19/12/1946 (lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến chống Pháp) và kết thúc với hiệp định ngưng chiến Genève 20/07/1954, phân chia Việt Nam thành 2 miền: Bắc với chế độ cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa; Nam với chế độ quốc gia Cộng Hòa Việt Nam. Khoảng 1 triệu người, đa số là Công Giáo Miền Bắc đã di cư vào Nam. Từ năm 1959, chính quyền Cộng Sản Miền Bắc hậu thuẫn cho tổ chức Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, gây nên cuộc chiến Bắc đánh Nam và chiến thắng Sài Gòn ngày 30/04/1975, lập lại một nước Việt Nam thống nhất với tên là Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa, từ ngày 02/07/1976 [1]. Sau 10 năm bao cấp, Chính Phủ đã đổi hướng cai trị với chính sách Đổi Mới, quyết định trong Đại Hội Đảng lần thứ VI, từ 15/12 đến 18/12/1986. Từ đó, kinh tế, chính trị, xã hội và tôn giáo đã dần dà được cải tiến.

Ngày 24-11-1960, Đức Thánh Cha Gioan XXIII thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam; các giám mục hiệu toà trở thành CHÍNH TÒA với 3 toà Tổng giám mục ở Hà Nội, Huế và Sài Gòn. Thành lập thêm ba giáo phận Đà Lạt, Mỹ Tho và Long Xuyên trong giáo tỉnh Sài Gòn. Số các giáo phận tăng lên thành 20: 10 ở giáo tỉnh Hà Nội, 4 ở giáo tỉnh Huế và 6 ở giáo tỉnh Sài Gòn. 50 năm sau, vào năm 2009, GHVN có 1 Hồng y tổng giám mục, 2 Tổng giám mục, 40 Giám mục; 3000 linh mục triều; 770 linh mục dòng; 15.750 tu sĩ nam nữ; 57.000 giáo lý viên; 6,2 triệu giáo dân; 2.135 giáo xứ, giáo điểm, giáo họ; 190 cơ sở xã hội, nhà trẻ, dạy nghề, lớp học, từ thiện, khám bịnh.

Lịch sử Công Giáo thời kỳ Chính Tòa (1960-Ngày nay), cũng gọi là thời kỳ Trưởng Thành của Giáo Hội Việt Nam, đã được in dấu với 12 dữ kiện quan trọng: 1- 760.000 giáo hữu cùng với trên dưới 800 linh mục và 6 giám mục đã di cư vào Nam từ năm 1954; 2- Khâm sứ Tòa thánh, các giám mục và thừa sai nước ngoài bị trục xuất hết khỏi miền Bắc trong 2 năm 1959-1960; 3- Thành lập Hàng Giáo Phẩm Việt Nam ngày 24-11-1960 với ba Giáo Tỉnh Hà Nội, Huế và Sài Gòn; 4- Thành lập thêm 9 giáo phận mới, nâng tổng số các giáo phận lên 26 trên toàn quốc. 5- Các phong trào công giáo tiến hành phát triển mạnh trong Nam; 6- Các hoạt động văn hóa giáo dục và xã hội của Giáo Hội cũng phát triển rầm rộ trong Nam; 7- Nhiều giáo sĩ Việt Nam tham gia vào giáo triều Roma và đi làm mục vụ trên khắp thế giới từ 1975; 8- Thành lập Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ngày 01.05.1980; 9- Giáo hội phong hiển thánh cho 117 vị tử đạo ở Việt Nam ngày 19/06/1988; 10- Tổ chức Đại Hội Dân Chúa năm 2010; 11- Tâm thức Việt Nam của Giáo dân Việt Nam và 12- Sự quản lý các tôn giáo đã được Ban Tôn Giáo Chính Phủ đảm trách từ 1955.

Sau 300 năm bị đàn áp dữ dội, sau loạn Văn Thân, Giáo hội tương đối được bình an trong một thời gian, 1888-1933, và tiếp tục phát triển mạnh [2].

Trong thời gian tranh đấu đòi độc lập 1941-1945, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam là một trong những thành phần đóng góp một cách rất tích cực. Năm 1945, Nhật bại trận. Trước âm mưu tái chiếm Việt Nam của thực dân Pháp, nhiều sĩ phu công giáo hồ hởi liên kết với các đảng phái khác để chống lại. Thành lập Việt Nam độc lập Đồng Minh (gọi tắt là Việt Minh) vào ngày 19-5-1941, Hồ Chí Minh dấu khéo ý đồ Cộng Sản, đã thu hút được nhiều nhân sĩ, đảng phái và tôn giáo tham gia, trong đó có Công Giáo. Năm 1945, khi tướng Leclerc dự tính tái lập thống trị thực dân Pháp ở Việt Nam, các giám mục Việt Nam đã viết một thơ cho các kitô hữu toàn thế giới, xin họ giúp đỡ dân tộc Việt Nam dành lại độc lập. Ngày 2-9-1945, tuyên ngôn độc lập và ra mắt quốc dân đồng bào, chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, đã có nhiều người Công Giáo tham gia, đặc biệt có Đức cha Lê Hữu Từ làm cố vấn. Nhưng dần dần, từ năm 1949, khi cuộc chiến chống Pháp thành khốc liệt hơn, bộ mặt thật cộng sản lộ diện dần. Năm 1950 họ thành lập Ủy Ban Đoàn Kết Công Giáo. Các đảng phái quốc gia ái quốc không cộng sản bị dần dà loại trừ. Năm 1951, các Giám Mục Đông Dương biên một thơ chung cấm người công giáo cộng tác với cộng sản. Sự xung khắc giữa Cộng Sản và Công Giáo thành rõ rệt.

Năm 1954, với Hiệp Ðịnh Genève, đất nước Việt Nam bị chia đôi làm hai miền. Miền Bắc ở dưới chế độ Cộng Sản, rất đông giáo dân và giáo sĩ đã bỏ làng xóm lánh nạn Cộng Sản, di cư vào miền Nam tìm tự do. Những người ở lại gặp nhiều khó khăn về vật chất và tinh thần. Trong Miền Nam, từ 1954 đến 1975, dưới chế độ Cộng Hòa, sự phát triển vật chất và tinh thần đã tiếp tục. Nhiều đoàn thể Công Giáo Tiến Hành đã được thành lập. Các sinh hoạt văn hóa, giáo dục và xã hội phát triển. Các ứng viên linh mục được thu nhận và truyền chức tự do. Giáo Hội Công Giáo đã tiến tới trưởng thành và các giáo phận trở thành chính tòa từ năm 1960. Nhiều giám mục đi tham dự Công Đồng Vatican II. Rồi các tài liệu Công Đồng đã được dịch thuật, phổ biến và học hỏi. Theo đường hướng của Công Đồng, giáo sĩ hướng dẫn giáo dân học hỏi, trở về nguồn thánh kinh và đào sâu giáo lý.

Nhưng, với sự phổ biến văn hóa vật chất, chủ trương tự do phóng túng, với những dồi dào của kinh tế và tiện nghi vật chất, hấp dẫn của thú vui hưởng thụ, một môi trường mới đang quyến dũ, cám dỗ người tín hữu, lôi kéo họ theo bả quyền lực, phú quí, vinh hoa, bất chính, bất lương. Môi trường mới này hại đạo một cách tinh vi hơn, khó biết hơn. Vượt được những thử thách này sẽ làm cho tín hữu trưởng thành hơn và giáo hội phát triển hơn!

Đối với các chính quyền Việt Nam, các vị chủ chăn và các nhà nghiên cứu đều nói đến Chính Quyền Cộng Sản, qua 2 tên gọi: Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa từ 1945 và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam từ năm 1976; Và đặc biệt nói đến ba giai đoạn: Giai đoạn 1954-1975 chuyên chính vô sản tại Miền Bắc, Giai Đoạn 1975-1986 thống nhất bao cấp toàn quốc và giai đoạn 1986-Ngày nay Đổi Mới [3].

Trong hai thập niên 1954-1975, “Nhà Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa quản lý Giáo hội Miền Bắc”.

Năm 1955, Thủ tướng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà căn cứ vào ý kiến của Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị định số 566/NĐ-TTg ngày 2/8/1955 về việc thành lập Ban Tôn giáo trực thuộc Phủ Thủ tướng (tiền thân của Ban Tôn giáo Chính phủ ngày nay) có nhiệm vụ “nghiên cứu kế hoạch thi hành những chủ trương chính sách của Chính phủ về vấn đề tôn giáo, giúp Thủ tướng phối hợp với các ngành ở Trung ương và theo dõi hướng dẫn, đôn đốc các địa phương trong việc thực hiện những chính sách của Chính Phủ về vấn đề tôn giáo và liên hệ với các tổ chức tôn giáo”. Từ đó, ngày 2 tháng 8 hàng năm là ngày truyền thống ngành Quản lý nhà nước về tôn giáo [4]. Quản lý hiểu theo nghĩa là định hướng và kiểm soát. Định hướng là chỉ đường phải đi, việc phải làm, cấm đường không được đi, việc không được làm và cho biết những đường đi và việc làm có điều kiện; Kiểm soát là theo dõi để biết đã làm đến đâu, làm những gì, theo dõi những đồng thuận và nhất là những bất đồng, những chống đối, những thiếu sót để kiểm thảo và xử phạt.

Trên nguyên tắc và lý thuyết, quyền tự do tín ngưỡng được bảo đảm. Điều 1, Sắc lệnh số 223/SL ngày 14/06/1955 của Chủ Tịch (Hồ Chí Minh) Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa viết: “Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tự do thờ cúng của nhân dân. Không ai được xâm phạm đến quyền tự do ấy. Mọi người Việt Nam đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”.

Các nhà tu hành được tự do giảng đạo tại các cơ quan tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý, v.v…)”.

Nhưng ngay sau đó, cũng trong điều 1, các giới hạn và khó khăn đã lập tức được nêu rõ. Các điều tiếp theo khác đều cho chi tiết những giới hạn và khó khăn [5].

Trong cụ thể và thực hành, sự quản lý các tôn giáo đã được tiên liệu, định hướng, kiểm soát và đàn áp, có tổ chức và phương pháp. Tài liệu Missio [6] nêu ra 25 biện pháp đã được xử dụng, trong đó có nhiều điều đã được trích từ bản báo cáo năm 1965, để kỷ niệm 10 năm ban hành luật tự do tôn giáo:

1. Chính quyền Cộng Sản Bắc Việt đã đương đầu chống lại những người tổ chức cho dân di cư vào Nam, theo dõi, cầm tù, thậm chí thanh toán trong một số trường hợp.

2. Việc đào tạo các linh mục bị cản trở một cách có hệ thống bằng hàng loạt các nghị định và quy chế pháp luật khác nhau.

3. Nhận các ứng viên và truyền chức linh mục đều phải có sự chấp thuận của chính quyền và của đảng.

4. Nhiều chủng sinh mới đã bị gửi đi lính trong một thời gian nghĩa vụ quân sự dài hoặc bị những kiện cáo lôi thôi cản trở khiến họ không thể tiếp tục chương trình học tập được.

5. Các linh mục không được tự do đi thăm viếng những người ốm đau hay sinh thì.

6. Các linh mục chỉ có thể cử hành các nghi lễ tang ma ở trong nhà thờ và không được cử hành trong các bệnh viện.

7. Các linh mục cũng bị cấm không được giảng phúc âm cho người ngoại đạo, vì hành động gây ảnh hưởng trên tư duy của người khác như vậy bị coi là xáo trộn bình an, hiệp nhất và an ninh xã hội nội địa.

8. Chính quyền tịch thâu các tài sản của Giáo Hội

9. Cấm phát hành báo chí tôn giáo

10. Tịch thâu và thế tục hóa tất cả các trường học tôn giáo

11. Các bài học giáo lý chỉ có thể được dậy trong khuân viên nhà thờ.

12. Các cuộc phá cuối các lễ nghi tôn giáo do các nhóm trẻ đều được công an bao che và dung thứ mà không bị án phạt nào.

13. Nhiều tòa giám mục trống ngôi nhiều năm và việc bổ nhiệm giám mục bị làm chậm trễ bất tận, thậm chí còn bị Ban Tôn Giáo cấm cản.

14. Đức Khâm Sứ Gioan Dooley đã phải bỏ Việt Nam vì lý do sức khỏe. Vị đại diện ngài đã buộc phải rời Bắc Việt ngày 17/08/1959.

15. Chính quyền muốn chia rẽ Giáo Hội, đã cho lập Hội những người Công Giáo yêu nước vào năm 1955, nhưng không được giáo hữu tham gia tích cực , vì các giám mục cấm các giáo sĩ và giáo dân gia nhập Ủy ban Liên lạc Công giáo.

16. Ủy Ban Liên Lạc đã bị hoàn toàn cô độc trong Giáo Hội, nhưng vẫn được Chính Quyền coi là đại diện chính thức công giáo.

17. Làm giảm sút hẳn sự liên lạc giữa Công Giáo Bắc Việt với Tòa Thánh Rôma.

18. Trong suốt hai thập niên 69 và 70, sự liên lạc giữa Giáo Hội Công Giáo Miền Bắc với thế giới bên ngoài thâu hẹp đến nỗi hầu như không có gì.

19. Không một giám mục nào đã được phép đi tham dự Công Đồng Vatican 2 (1962-1965).

20. Trong rất nhiều năm, không ai có thể in ấn, phổ biến, hoặc thực hành các quyết định của Công Đồng trong miền đất Bắc Việt này.

21. Chiến tranh Việt Nam đã là những đề tài lớn về thời sự quốc tế; nhưng những bài tường thuật chỉ nhìn dưới góc độ Miền Nam, mà không hề bao giờ có một đè tài nói về Giáo Hội hay giáo dân Miền Bắc.

22. Sự liên lạc của Giáo Hội Miền Bắc chỉ duy nhất được giữ với Tổ Chức Bác Ái Thế Giới, mà vị chủ tịch là Georg HÜSSLER đã đến thăm nhiều lần.

23. Tổ chức Bác Ái Misereor cũng đã có những liên lạc với Bắc Việt Nam và giúp đỡ nhân đạo.

24. Năm 1974, ít ngày trước thống nhất, Đức cha Trịnh Văn Căn, lúc đó là Gm Hà Nội, đã được phép xuất ngoại tham dự Hội Nghị Giám Mục tại Rôma.

25. Nhưng ngược lại, Chính Quyền cấm Hội Đồng Giám Mục Bắc Viêt làm thành viên “Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu” (FABC), được thành lập từ 1971.

Trong thập niên bao cấp 1975-1986, «Nhà Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam quản lý Giáo Hội Việt Nam”.

Với biến cố 30/4/1975, Cộng Sản Việt Nam đã chiếm trọn miền Nam Việt Nam, thống nhất đất nước dưới chế độ Cộng Sản. Nhà nước Cộng Sản đặc biệt lưu tâm đến việc quản lý các tôn giáo, nhất là Công Giáo. Những việc gì đã được thực hiện để quản lý Giáo Hội Việt Nam? Cũng một chính sách quản lý được áp dụng ở Miền Bắc 1954-1975 đã được mang ra áp dụng cho toàn quốc Việt Nam kể từ 1975 đến 1986.

Trên nguyên tắc và lý thuyết, Nghị Quyết Số: 297-CP, ngày 11 tháng 11 năm 1977 của Hội Đồng Chính Phủ lặp lại bảo đảm tự do tôn giáo đã được ghi trong Sác Lệnh số 234-SL ngày 14 tháng 06 năm 1955. Ở Phần I về “Những Nguyên tắc chung“, 5 khoản đã được viết như sau:

“1. Chính phủ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và quyền tự do không tín ngưỡng của nhân dân.

2. Các nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo đều được hưởng mọi quyền lợi và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân.

3. Các tôn giáo và mọi công dân theo đạo hoặc không theo đạo đều bình đẳng trước pháp luật.

4. Các tôn giáo phải tuân theo Hiến pháp, pháp luật và chủ trương, chính sách, thể lệ của Nhà nước trong mọi lĩnh vực hoạt động của mình.

5. Những kẻ lợi dụng tôn giáo để phá hoại nền độc lập của Tổ quốc, chống lại chế độc xã hội chủ nghĩa, phá hoại khối đoàn kết toàn dân, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, chống lại các chính sách và pháp luật của Nhà nước sẽ bị pháp luật nghiêm trị” [7].

Trong cụ thể và thực hành, tài liệu “Giáo Hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản, ở chương II, nói về “Hai miền Nam Bắc thống nhất, cả nước đều bị rơi vào tay Cộng Sản” [8], đã cho biết rằng “Hơn nửa triệu giáo dân Việt Nam phải rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để trốn thoát khỏi sự đàn áp của Cộng Sản, và tìm đến một bến bờ tự do tại các trại ti nạn quanh vùng Ðông Nam Á và sau đó định cư ở xứ lạ quê người: Hoa Kỳ, Canada, Úc Châu, Âu Châu….

Nhưng không một giám mục nào đã bỏ nước ra đi. Để quản lý những giáo dân còn kẹt lại tại Việt Nam, người ta đọc được 23 công việc mà Nhà Nước đã dùng:

1. Những người còn kẹt lại tại Việt Nam, rất nhiều người bị đày đi kinh tế mới, bị đưa đi cải tại, tạo nên những cảnh vợ chồng cách biệt, gia đình ly tán…

2. Hơn 100 Linh Mục Tuyên Úy Công Giáo bị bắt đi tù cải tạo, và một số Linh Mục dân sự khác bị bắt giam,

3. nhiều vị đã bị chết trong tù vì chế độ quá gian khổ và thiếu đủ mọi điều kiện.

4. Hầu hết các cơ sở của Giáo Hội ở miền Nam như các trường học, các tu viện, các cơ sở xã hội như nhà thương, trại cùi… đều bị nhà nước tịch thu.

5. Nhà nước cũng tổ chức nhóm Linh Mục “quốc doanh” để ủng hộ cho những hoạt động của đảng Cộng Sản, và nhóm này xuất bản tờ báo “Công Giáo và Dân Tộc” để làm công tác tôn giáo vụ theo đường hướng của Ðảng Cộng Sản Việt Nam.

6. Với sự hậu thuẫn của nhóm Công Giáo và Dân Tộc, nhà nước Việt Nam đã đuổi Ðức Khâm Sứ Tòa Thánh Henri le Maitre ra khỏi nước,

7. bắt giam Ðức Tổng Giám Mục Phó Sàigòn, Ðức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận,

8. và chống đối việc Phong Thánh cho 117 vị Tử Ðạo tại Việt Nam.

9. Trong nhóm “quốc doanh” này, có Linh Mục Chân Tín và Nguyễn Ngọc Lan, trước kia ủng hộ “Cách Mạng” nay chống đối công khai, các ngài đã tách ra khỏi nhóm quốc doanh và can đảm nói lên lập trường của Giáo Hội nhất là trong vụ phong hiển thánh cho 117 vị Tử Ðạo tại Việt Nam.

10. Trong tình thế khó khăn như vậy, người Công Giáo trong Nam cũng như ngoài Bắc đã củng cố đức tin của mình theo gương của Ðức cố Hồng Y Trinh Như Khuê và Ðức Tổng Giám Mục Nguyễn Kim Ðiền, họ làm bổn phận truyền giáo một cách hăng say:

11. từ năm 1975 đến nay, các cha Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đã âm thầm đào tạo từng nghìn giáo lý viên cho Giáo Hội.

12. Tại Tây Nguyên dưới sự dìu dắt của các cha dòng, từng chục buôn Thượng xin chịu phép rửa tội tập thể.

13. tại Tây Sơn, 4,000 người thiểu số xin theo đạo.

14. Sự sống đạo của người giáo dân Việt Nam trong những lúc khó khăn vẫn tiếp tục gia tăng, và luôn sẵn sàng theo gương các bậc anh hùng tổ tiên là các Thánh Tử Ðạo Việt Nam.

15. Dưới thời chế độ Cộng Sản, tất cả các chủng viện và dòng tu đều bị cấm chỉ hoạt động.

16. Việc phong chức linh mục hoặc việc Tòa Thánh muốn bổ nhiệm các giám mục đều phải qua sự duyệt xét của nhà nước.

17. Nhiều giáo phận, đã phải qua một thời kỳ hơn 15 năm không phong thêm được một tân Linh Mục nào.

18. Nhiều Tòa Giám Mục vẫn bị trống ngôi hoặc nhiều giám mục đã ở tuổi quá già vì những người được Tòa Thánh bổ nhiệm để thay thế đã không không được nhà nước chấp thuận.

19. Sự thiếu sót trầm trọng các linh mục ở nhiều giáo phận.

20. Hầu hết các linh mục đều đã ở tuổi già.

21. Mãi đến thời kỳ cởi mở của nhà nước, cả nước chỉ được 4 Liên Ðại Chủng Viện được phép mở cửa: Hà Nội, Vinh Thanh, Saigòn, Cần Thơ, và về sau này thêm đại chủng viện Nha Trang,

22. nhưng số chủng sinh được nhập học nhà nước chỉ giới hạn với một con số rất là ít,

23. và tất cả các chủng sinh này đều phải thông qua những cuộc phỏng vấn điều tra lý lịch của công an địa phương mới được vào nhập học.

Trong bài viết “Tương quan giữa Giáo Hội và Nhà Nước tại Việt Nam” [9], Đức Giám Mục Nguyễn Thái Hợp đã mượn lời góp ý của hai Tổng Giám Mục để kết luận về hai giai đoạn 1954-1975 và sau 1975. Đức TGM Nguyễn Kim Điền, đã góp ý ngày 22.04.1977 rằng “Chỉ có tự do tín ngưỡng trên văn bản, chứ không có trong thực hành“. Đức TGM Nguyên Văn Bình, hai tháng trước ngày qua đời (01/07/1995), đã bộc bạch: “Thú thực, trước đây vì nghe và đọc thấy là ở Liên Xô và Đông Âu cũng như ở Trung Quốc và Miền Bắc xưa kia, Công Giáo gặp khó khăn, tôi tự nhiên cũng rất sợ Cộng Sản“. Và khi được hỏi “sau 20 năm (1975-1995) hoạt động dưới chế độ Cộng Sản, cụ còn sợ Cộng Sản nữa không?”, ngài thẳng thắn trả lời: “Vẫn còn sợ”. Thế rồi ngài cho biết nguyên nhân của nỗi sợ này là do: “Lời nói và việc làm không đi đôi, có nhiều điều thấy dễ ở cấp cao nhưng khó ở cấp dưới, một số vụ việc “được xử lý quá mức cần thiết”.

Dưới khía cạnh tôn giáo, những khó khăn do chính quyền gây ra không bao giờ thành công trong việc thuyết phục bỏ đạo. Ngược lại càng nhiều khó khăn, càng nhiều lòng tin. Khó khăn càng lớn và dữ tơn, tàn ác, lòng tin càng kiên trung, anh hùng. Đó là kinh nghiệm của Giáo Hội Việt Nam trong thời Tông Tòa 1659-1960. Trước những khổ hình dã man của vua quan Việt Nam, nhất là dưới thời nhà Nguyễn do ba vua Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Đức và do Phong Trào Văn Thân, các anh hùng tử đạo thật là đông đảo, 130000 vị, và thật kiên hùng! Trong bài giảng lễ Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam tại Giáo Xứ Việt Nam Paris, ngày 18.11.2007, Đức cha Nguyễn Văn Hòa đã gọi việc cấm đạo của các vua nhà Nguyễn là một tội hồng phúc, vì nhờ đó mà Giáo Hội Công GiáoViệt Nam đã có 117 Thánh Tử Đạo. Và ngài đã cám ơn các vua quan cấm đạo.

Dưới thời Chính Quyền Cộng Sản, ở Bắc Việt 1954-1975 cũng như toàn nước Việt Nam sau 1975, gương kiên trung và oai hùng của cha chính Vinh [10], của ĐHY Thuận [11] và của biết bao tín hữu khác trong số 443.360 người ra trình diện đi học tập ở Sài Gòn, theo lệnh Ủy Ban Quân quản Sài Gòn ban bố ngày 5-5-1975 [12]. Trong thánh lễ kỷ niệm 27 năm ngày 30/04/2002, cha Mathêu Lê Minh Châu, giáo xứ Hiển Linh, Sài Gòn đã phác ra một bản tổng kết rất tích cực về việc sống đức tin trong những năm đầu thời Cộng Sản từ 1975. Theo cha, “việc Cộng Sản chiếm quyền ở Miền Nam, dẫu có khó khăn và bắt bớ, đã là một dịp may cho người Công Giáo Việt Nam, để họ tập trung tâm trí vào điều cốt yếu của đức tin, mà bỏ bớt được những gánh nặng tổ chức trường học, nhà thương hay là những cơ sở khác của giáo hội. Ngài còn nói thêm rằng, dẫu có hằng ngàn người đã vượt biển, rời bỏ quê hương, Giáo Hội Công Giáo vẫn còn có nhiều khả năng, theo dòng thời gian, để lo cho con người. Theo lời ngài, thì thời gian khó khăn đi cải tạo trong các trại lao động đã chẳng những không làm nản lòng các linh mục và tu sĩ, mà trái lại còn cho họ một đà mới để sống ơn gọi một cách hiệu quả và sâu đậm hơn. Kinh nghiệm làm việc chân tay cực nhọc, kèm thao đói, nghèo, quả thực là một bài học khắc nghiệt, nhưng hữu ích và có hiệu quả để làm cho sứ mệnh của giáo hội được lan rộng đến người nghèo, khiến họ biết được những ý tưởng mới. Nhờ kinh nghiệm đi cải tạo, lòng tin của họ được chín chắn, và các liên hệ gặp gỡ với cán bộ cộng sản đã cho họ dịp may được nhận biết tâm tư của những người không tin và vô thần” [13].

Trong ba thập niên đổi mới 1986-2013, “Giáo hội Công Giáo Việt Nam đang dần dà chinh phục Cộng Sản hay Cộng sản đang thay đổi chiến lược?».

Công Đồng Vatican 2 có một ảnh hưởng sâu rộng trên Hàng Giáo Phẩm Việt Nam, đặc biệt trên các giám mục Miền Nam, những người đã trực tiếp tham dự Công Đồng, hay đã học hỏi các tài liệu Công Đồng. Trong nhiều tài liệu khác nhau [14], các Giám Mục Miền Nam “kêu gọi thiện chí của chính quyền hai miền Nam và Bắc hãy cùng nhau kiến tạo hòa bình”: thông điệp ngày 05.01.1968, thư luân lưu 1969, thông cáo tháng 07/1971, thư chung ngày 03/02/1973, và tuyên ngôn ngày 01/01/1974. Và kêu gọi giáo dân cộng tác với chính quyền xây dựng quê hương, “Sống Phúc Âm giữa lòng Dân Tộc và góp phần cùng đồng bào cả nước bảo vệ và xây dựng tổ quốc.»: Tâm thư ngày 01/04/1975 của ĐTGM Nguyễn Kim Điền, thư luân lưu ngày 12/06/1975 của ĐTGM Nguyễn Văn Bình và nhất là Thư mục vụ ngày 01/05/1980 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam được thành lập trong cuộc hop chính thức từ ngày 24/04 đến 01/05/1980 tại Hà Nội và Thư chung hậu Đại Hội Dân Chúa 2010 gửi toàn thể Cộng Đồng Dân Chúa Việt Nam, ngày 01/05/2011 của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (câu số 33). Thái độ cởi mở, hòa hợp, yêu nước và cộng tác của các Giám Mục Việt Nam có lẽ đã hơn một lần đánh động tâm hồn người cộng sản.

Rồi những chứng kiến về thái độ chân thực và nhân bản của các tù nhân học tập miền Nam, trong đó có nhiều giáo dân, linh mục, giám mục đã làm cảm kích nhiều cán bộ, có khi trở lại đạo, như trường hợp ông Nguyễn Hoàng Đức, nhà phê bình văn học, trước đây từng là công an, đã gặp gỡ Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận, trong thời kỳ ngài bị tù và quản chế 1975-1988 và đã lãnh nhận phép rửa tội [15].

Từ năm 1986 có nhiều thay đổi đã được Chính Quyền Cộng Sản thực hiện, mà thay đổi đầu tiên, lớn nhất và quyết định nhất là thay đổi chính sách do Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đưa ra trong Đại Hội Đảng lần thứ VI, từ 15/12 đến 18/12/1986, gói ghém trong 4 chữ “Đổi Mới” và “Cởi Trói”. Đổi mới về chính trị và kinh tế, Cởi trói về văn hóa và tư tưởng. Tiếp theo đó, năm 1995, trong một thơ gửi Bộ Chính Trị, Thủ Tướng Võ Văn Kiệt đã nêu ra những yêu cầu chính yếu sau đây: 1- Thừa nhận những đặc trưng của luật thị trường và đừng áp chế chúng bằng những nguyên tắc ý thức hệ chính trị; 2- Phải đưa vào Việt Nam khái niệm pháp quyền mà Nhà Nước và Đảng phải tôn trọng; 3- Những cán bộ lãnh đạo cần phải được tuyển chọn theo khả năng công việc hơn vì là đảng viên [16].

Cùng với chính sách Đổi Mới tổng quát về chính trị, kinh tế, văn hóa và tư tưởng trên đây, nhiều thay đỗi cũng đã được thực hiện trong chính sách và quản lý tôn giáo. Theo ghi nhận của Ông Nguyễn Khắc Huy, Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Ban Tôn giáo Chính phủ, thì “Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở lại đây, trước sự phát triển của đất nước, tình hình tôn giáo ở Việt Nam cũng có nhiều thay đổi. Nhiều quan điểm, chủ trương về công tác tôn giáo thể hiện trong các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng Cộng sản Việt Nam trực tiếp chỉ đạo giải quyết vấn đề tôn giáo trong thời kỳ này đã được ban hành. Thể chế các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng, pháp luật về tôn giáo không ngừng được xây dựng, sửa đổi bổ sung và hoàn thiện. Chỉ trong vòng hơn 10 năm, hàng trăm văn bản đã được Nhà nước Việt Nam ban hành có nội dung điều chỉnh lĩnh vực tôn giáo” [17]. GS, TS. Đỗ Quang Hưng, Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo, có cùng một ghi nhận và cho chi tiết những cải thiện trong chính sách tôn giáo trong hơn hai thập kỷ qua. Điểm đổi mới đầu tiên, trong Nghị quyết số 24 NQ-TW ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị khóa VI về “Tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”, là đổi mới mang tính đột phá về nhận thức, với hai luận điểm “: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và tôn giáo có những giá trị văn hóa đạo đức phù hợp với chế độ mới“. Sau đó, hàng loạt các văn bản pháp lý đã thể hiện sinh động sự đổi mới về chính sách Tôn giáo, mà chung qui hướng vào ba điểm sau đây: 1- mối quan hệ giữa Nhà nước và các tôn giáo đã được cải thiện căn bản theo hướng pháp quyền. 2- mối quan hệ giữa “hoạt động tôn giáo” và “công tác tôn giáo” cũng được giải quyết tốt hơn bằng cách khai thác các điểm tương đồng, đồng thuận xã hội có ý nghĩa lớn “Giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc vì dân giàu, dân chủ, văn minh”; 3- vận dụng kinh nghiệm của lịch sử dân tộc và quốc tế về Luật pháp tôn giáo, để sự thể chế hóa về quyền hạn và nghĩa vụ của toàn dân, trước hết là cộng đồng các tôn giáo ngày càng thích hợp hơn. Có thể nói, “xu hướng tôn giáo Việt Nam đồng hành cùng dân tộc và CNXH là không thể đảo ngược“. Tiếp theo những ghi nhận về quá khứ, Gs Hưng đưa ra 4 đề nghị cho tương lai: 1- Tiếp tục đổi mới tư duy về tôn giáo và công tác tôn giáo; 2- Tiếp tục hoàn thiện luật pháp tôn giáo, triển khai có hiệu quả hơn đường lối chính sách đổi mới của Đảng, Nhà nước ta; 3- Giải quyết tốt hơn quan hệ quốc tế của các tôn giáo; 4- Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác nghiên cứu, giảng dạy và quản lý về tôn giáo [18].

Những đổi mới trên đây phải chăng là dấu hiệu cho thấy Công Giáo Việt Nam đang dần dà chinh phục Chính Quyền Cộng Sản? Năm 2002, Cha Mathêu Lê Minh Châu đã nhận định rằng: “Về phía họ, những vị đại diện Đảng và Nhà Nước, theo dòng thời gian, họ đã có phần nào thay đổi ý kiến của họ về Giáo Hội, về các linh mục, về các tu sĩ và về các giáo dân công giáo, bởi họ đã công nhận rằng người công giáo đã thực hiện những việc hữu ích cho xã hội” [19]. Trong Hiệp Thông, Bản tin của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, số 75, tháng 3&4/2013, Đức cha Nguyễn Thái Hợp cũng đã có một nhận định tương tự. Trong “một sơ thảo về mối tương quan giữa Giáo Hội và Nhà Nước tại Việt Nam từ giữa thế kỷ XX đến nay“, sau khi đã phân tích đường hướng «Giáo Hội mở cửa ra thế giới“, rồi những “Biến chuyển về nhận thức nơi người Công Giáo Việt Nam” (từ 1954 đến 1975) và “Một biến cố (30/04/1975) nhiều ý nghĩa tương phản”, Đức cha Chủ Tịch Ủy Ban Công Lý và Hòa Bình của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã đề cập đến thời kỳ Đổi Mới từ 1986 đến nay qua một tựa đề thẳng thắn “Mở cửa kinh tế, nhưng chưa đổi mới chính trị“. Cụ thể là “cơ chế chính trị, luật pháp và xã hội của (Chính Quyền Cộng Sản) Việt Nam vẫn chưa cập nhật với thời đại”. Bảy bất cập đã được nêu ra:

1- Không cho phép các tôn giáo trong nước tham gia trực tiếp vào lãnh vực Y Tế và Giáo Dục;

2- Quyền tự do tôn giáo vẫn còn nhiều hạn chế, phân biệt đối xử và ngăn cản trong sinh hoạt tôn giáo;

3- Vẫn còn nhiều qui định coi thẻ đảng viên là tiêu chuẩn đầu tiên cho nhiều chức vụ và nhiệm vụ trong xã hội Việt Nam hôm nay;

4- Vẫn còn những luật lệ thành văn và nhất là bất thành văn giới hạn quyền công dân của các tín đồ tôn giáo;

5- Luật đất đai còn tính chất bất hợp lý và giáo điều, gây nên nhiều vụ án tham nhũng, nhiều khiếu nại và xung đột, trong đó có căng thẳng về đất đai và cơ sở tôn giáo;

6- Cơ chế “xin-cho“, trong thực tế đã biến thành cơ chế “cho-cho“, bất hợp lý, tạo nên tham nhũng, bất công và hố sâu cách biệt giầu nghèo (5% dân số giầu hưởng 75% công quỹ và 95% dân số nghèo chỉ được hưởng 25% còn lại);

7- Còn những giải quyết xung đột bằng bạo lực và thiếu trung thực về thông tin đại chúng. Nhưng bên cạnh những “lấn cấn” đó, Đức cha không dấu được niềm phấn khởi khi thấy rằng “bất chấp những khó khăn và giới hạn nói trên, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã biểu lộ sức sống và tính năng động như chưa từng thấy”.

Rồi ngài kể ra 5 biểu lộ sức sống của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam: “Thật vậy,

1- Chưa bao giờ Giáo Hội Việt Nam có con số giám mục, linh mục, chủng sinh, tu sĩ, giáo l‎í viên… nhiều như hiện nay.

2- Hầu hết các thánh đường và cơ sở cũ đã được trùng tu.

3-Nhiều thánh đường và cơ sở mới đang tiếp tục mọc lên.

4- Các khó khăn và giới hạn về việc tuyển sinh của các Dòng, các Đại Chủng viện cũng như việc thụ phong linh mục… trên cơ bản đang được giải quyết.

5- Các Đại Chủng viện, các Học viện của các Dòng tu, cũng như các Trung tâm Mục vụ của Giáo phận đang sinh hoạt bình thường” [20]. Có lẽ sẽ phải thêm vào đó 3 điều nữa:

6- Các giám mục dám và được tự do ngôn luận phát biểu nhiều hơn;

7- Các Giám mục và linh mục được dễ dãi di chuyển trong và ngoài nước nhiều hơn;

8- Các lễ nghi Công giáo đã được tổ chức một cách hoành tráng hơn và được trình diễn công khai nhiều hơn;

9- Việc bình thường hóa ngoại giao giữa Toà Thánh Vatican và Chính Quyền Việt Nam đang tiến triển tốt đẹp hơn.

Hay những đổi mới ấy chỉ là những bước đầu của một chiến lược mới của Chính Quyến Cộng Sản? Những biểu lộ sức sống trên đây, quả thực, là những thực hiện, chứ không phải là những nhận định. Nhưng bảo rằng đó là những chinh phục mà Công Giáo Việt Nam đã thực hiện được thì hơi quá. Khách quan mà nói, thì đúng hơn phải bảo rằng đó là điều, mà Chính Quyền Cộng Sản đã cởi mở cho các tôn giáo.

Gs Ts Đỗ Quang Hưng, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Tôn giáo, đã cho thấy hướng đi tương lai của những đổi mới về chính sách tôn giáo của Chính Quyền Cộng Sản. Một đàng, trong thực tế vẫn còn những cách hành xử và giải quyết kiểu vô thần macxit. Đàng khác, trong nhận thức, đang thành hình 5 chấp nhận mới rất tư bản về vấn đề tôn giáo:

1- chấp nhận rằng tôn giáo là một nhu cầu của con người, là một thực thể xã hội và hữu ích cho xã hội, (mà quên đi tiền đề cộng sản rằng tôn giáo là một bùa mê);

2- chấp nhận cho tôn giáo một thực thể pháp quyền, (“đồng bào có đạo”) có pháp nhân tôn giáo, có khả năng và quyền hạn (pháp lý nhân sự) tham gia tích cực hơn vào một số vấn đề xã hội thích hợp, đóng góp vào việc xây dựng phát triển đất nước;

3- chấp nhận rằng thực chất công tác tôn giáo là công tác dân vận, thay vì là công tác đánh địch, công tác nội chính;

4- chấp nhận và hoàn thiện mô hình Nhà Nước thế tục;

5- chấp nhận yếu tố quan hệ quốc tế của các tôn giáo, do yếu tố quốc tế người Việt từ sau 1975. Chiến sách mới này, như vậy, vừa muốn giữ nguyên chiều hướng vô thần mácxít, vừa muốn hội nhập chiều hướng thế tục vô thần tư bản [21].

KẾT LUẬN

Tổ chức Đại Hội Lộ Đức 02-04/08/2013 này, “MỪNG 25 NĂM TUYÊN PHONG CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM – SỐNG ĐỨC TIN THEO GƯƠNG TIỀN NHÂN”, Các giáo hữu Công Giáo Việt Nam tại Pháp muốn hiệp thông cùng Giáo Hội Việt Nam, như lời Đức Cha Nguyễn Văn Nhơn, Chủ Tịch HĐGMVN, rằng “làm sao chúng ta có thể quên tấm gương sống động của Các Thánh Tử Đạo và biết bao người “đã làm chứng cho Đạo yêu thương bằng đời sống thấm đẫm tinh thần cầu nguyện và bằng cả sự hiến dâng mạng sống”? Nhờ ôn lại lịch sử, chúng ta biết trân trọng hơn gia sản đức tin mà các bậc tiền nhân để lại, đồng thời can đảm giữ vững và làm chứng cho Tin Mừng trong mọi hoàn cảnh” [22].

Ôn lại ba thời kỳ lịch sử Giáo Hội Việt Nam, đặc biệt thời kỳ Chính Tòa, dưới vấn nạn “Sự cấm đạo đã diễn ra thế nào“? Ta có thể tóm tắt: khác với Thời Bảo Trợ 1533-1659, và Thời Tông Toà 1659-1960, trong Thời kỳ Chính Toà 1960-3013, sự quản lý tôn giáo đã được Nhà Nước Cộng Sản thực hiện một cách có phân biện trong 2 giai đoạn 1954-1975 cho Giáo Hội Miền Bắc và giai đoạn 1975-1986 cho toàn Giáo Hội Việt Nam: tự do tôn giáo trong các khoản luật và nghị quyết, nhưng trong thực tế còn những giới hạn và “lấn cấn“. Sang giai đoạn Đổi Mới, trong ba thập niên đổi mới 1986-2013, nhiều đổi mới đã được thực hiện cho Giáo hội Công Giáo Việt Nam. Những đổi mới này phải chăng là dấu hiệu cho thấy Công Giáo Việt Nam đang dần dà chinh phục Chính Quyền Cộng Sản? Năm 2002, Cha Mathêu Lê Minh Châu đã nhận định rằng: Đảng và Nhà Nước “đã công nhận rằng người công giáo đã thực hiện những việc hữu ích cho xã hội” [23]. Tháng 4/2013 vừa qua, Đức cha Nguyễn Thái Hợp cũng đã có một nhận định tương tự. Rồi ngài kể ra 5 biểu lộ sức sống mới của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Những biểu lộ sức sống Công Giáo Việt Nam có phải là những điều mà Giáo Hội Công Giáo Việt Nam đã chinh phục được hay chỉ là những dấu chỉ của một chính sách “cho-cho” mới của Chính Quyền Cộng Sản? Phân tích chiều hướng của những đổi mới do Chính Quyền Cộng Sản đưa ra và những biểu lộ sức sống mới hay những chinh phục mới của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam, người ta không khỏi nghi ngại nhìn ra những bước đầu của một chính sách mới, vừa muốn giữ nguyên chiều hướng vô thần mácxít, vừa muốn hội nhập chiều hướng thế tục vô thần tư bản, làm cho “lòng đạo càng ngày càng khô cằn“, như lời ĐHY Phạm Minh Mẫn [24]. Đây có lẽ là mối nguy hiểm lớn nhất cho đời sống Đức Tin của con cháu chúng ta. Các Cộng Đoàn Công Giáo Việt Nam Hải Ngoại đang sống kinh nghiệm đau thương này; con cái học hành thành đạt, làm ăn khá giả, nhưng ít đến nhà thờ hơn, ít sống đạo hơn, thâm chí có đứa đã tuyên bố không tin nữa [25]!

Paris, ngày 31 tháng 07 năm 2013
Trần Văn Cảnh

Ghi chú

1. Hà Văn Thư – Trần Hồng Đức: Tóm tắt niên biểu Lịch sử Việt Nam; Hà Nội: NXB Văn Hóa Thông Tin

2. Phan Phát Huồn, CSSR, Việt Nam Giáo Sử; Long Beach: 1997; tr. 692-753.

3. Xin xem thêm 5 tài liệu chính sau đây:

1. Vietnamese Missionnaries in Taiwan: Giáo Hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản (1988)

2. Stephen Denney: Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam (1990) (Đỗ Hữu Nghiêm giới thiệu và biên dịch)

3. Missio: La situation des droits de l’homme dans la république socialiste du Viêtnam – la liberté de religion (2003)

4. Các Ủy Ban Hội Đồng Giám Mục Phúc Trình về sinh hoạt trong 50 năm Thời Kỳ Chính Tòa 1960-2010, đặc biệt là các Ủy Ban Giáo Dân, Bác Ái Xã Hội, Rao Giảng Lời Chúa, Phụng Tự, Giáo sĩ và chủng sinh (2010)

5. Gm Phaolô Nguyễn Thái Hợp: Tương quan giữa Giáo Hội và Nhà Nước tại Việt Nam (2013)

4. Thanh Trần: Tăng cường quản lý nhà Nước về Tôn Giáo; Xin xem: http://www.ubmttq.hochiminhcity.gov.vn/web/vi-vn/chuyenmuc-644-chinh-tri-tintuc- 4142-tang-cuong-quan-ly-nha-nuoc-ve-ton-giao.aspx

5. Xin xem Sắc lệnh số 223/SL ngày 14/06/1955 của Chủ Tịch Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa: http://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID=1084

6. Missio: La situation des droits de l’homme dans la république socialiste du Viêtnam – la liberté de religion (2003), tr. 11

7. Xin xem Nghị Quyết Số: 297-CP, ngày 11 tháng 11 năm 1977 của Hội Đồng Chính Phủ: http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet-297-CP-chinh-sach-ton-giao-vb17739.aspx

8. Vietnamese Missionnaries in Taiwan: Giáo Hội Việt Nam dưới chế độ Cộng Sản (1988) http://www.catholic.org.tw/vntaiwan/ghvienam/lichsu3.htm

9. GM Nguyễn Thái Hợp, O.P. Tương quan giữa Giáo Hội và Nhà Nước tại Việt Nam, http://www.lamhong.org/2013/04/25/tuong-quan-giua-giao-hoi-voi-nha-nuoc-tai-viet-nam/

10. Cha chính Vinh bị đi tù năm 1958 và chết trong tù năm 1971. Nguồn: Nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Html/54286.htm

11. ĐHY Thuận, Nguồn: http://giesu.net/home/?page_id=2107

12. Huy Đức, Bên thắng cuộc, chương 2 và 2b: cải tạo và tù cải tạo

13. Missio, Sđd, tr. 30

14. Ủy Ban Loan Báo Tin Mừng HĐGMVN, Giáo Hội Công giáo Việt Nam và nỗ lực truyền giáo 50 năm qua; trong:http://hdgmvietnam.org/giao-hoi-cong-giao-viet-nam-va-no-luc-truyen-giao-50-nam-qua-1/2390.63.8.aspx

15. Lan Chi: Hà Nội chống lại tiến trình phong chân phước cho Hồng y Nguyễn Văn Thuận: Nhân chứng bị ngăn chận tại sân bay (14/07/2013) trong http://www.asianews.it/news-en/Hanoi-against-the-beatification-of-Cardinal-Van-Thuân.-Canonisation-process-witness-stopped-at-airport-28451.html

16. Missio: La situation des droits de l’homme dans la république socialiste du Viêtnam – la liberté de religion (2003), tr. 5

17. Nguyễn Khắc Huy: Tiến trình Luật pháp Tôn giáo ở Việt Nam từ năm 1990 đến nay, nguồn: http://www.anthdep.edu.vn/?frame=newsview&id=192

18. GS, TS. Đỗ Quang Hưng: Từ sự đổi mới nhận thức đến sự đổi mới về chính sách tôn giáo, Nguồn: http://btgcp.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/38/0/240/0/1081/TU_SU_DOI_MOI_NHAN_THUC_DEN_SU_DOI_MOI_VE_CHINH_SACH_TON

19. Missio, Sđd, tr. 30

20. GM Nguyễn Thái Hợp, O.P. Tương quan giữa Giáo Hội và Nhà Nước tại Việt Nam, chương IV

21. Gs Ts Đỗ Quang Hưng, Sđd.

22. Phêrô Nguyễn Văn Nhơn: THƯ MỤC VỤ NĂM ĐỨC TIN CỦA HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM, ngày 11 tháng 10 năm 2012; Nguồn: http://www.hdgmvietnam.org/thu-muc-vu-nam-duc-tin-cua-hoi-dong-giam-muc-viet-nam/4314.116.3.aspx

23. Missio, Sđd, tr. 30

24. ĐHY Phạm Minh Mẫn, Năm mới và công cuộc đổi mới, Thư ngỏ ngày 18/02/2013. Ngài viết: “Trong gần nửa thế kỷ qua, xã hội Việt Nam đã trải qua hai thời kỳ đóng cửa và mở cửa. Thời kỳ đóng cửa tự cô lập, để lại nhiều mất mát, mất của cải vật chất, mất các quyền tự do. Thời kỳ mở cửa đổi mới, du nhập nhiều thứ tự do. Tự do của nền kinh tế thị trường, tự do cạnh tranh loại trừ nhau, tự do chạy theo xu hướng hưởng thụ duy vật chất, tự do ly dị, tự do phá thai, tự do đồng tính… Những tự do đó xem ra có góp phần phát triển kinh tế xã hội, nhưng đồng thời cũng đã làm phát sinh nhiều vấn đề nghiêm trọng cùng nhiều tệ nạn xã hội, làm cho đời sống tinh thần ngày càng bị sa mạc hóa, lòng đạo ngày càng khô cằn“.

25. Trần Văn Cảnh: Đại Hội Mục Vụ thứ 58, Giáo Xứ Việt Nam Paris; Nguồn: http://www.vietcatholic.net/News/Html/98484.htm

(ghhv.quetroi.net)

Bài này đã được đăng trong Các Thánh. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.